Sa-lô-môn

Sa-lô-môn Solomon. Salomon.

I. Thời thơ ấu và sự lên ngôi. — Là con vua Đa-vít lúc tuổi già, Sa-lô-môn làcon thứ tư trong số bốn con trai Đa-vít có với bà Bát-sê-ba(ISử 3:5). Tình cảm của Đa-vít và của tiên tri Na-than được bày tỏ trong các tên gọi khi hoan nghênh sự ra đời của Sa-lô-môn. Đa-vít với những sự khát vọng của “người chiến sĩ” nay dẫn đến sự đặt cho con mới sanh mình tên Sa-lô-môn (Shêlômôh, nghĩa là người bình an). Tiên tri Na-than, với sự trưng dẫn đến ý nghĩa của chính tên vua (Đa-vít, nghĩa là người được yêu, kẻ được yêu dấu) gọi con trẻ là Giê-đi-đia (Jedidyah, nghĩa là người Đức Giê-hô-va thương yêu, IISa 12:24, 25). Từ hồi còn nhỏ, Sa-lô-môn đã được Na-than coi sóc.

Thoạt đầu, dường như không có mục đích đặc biệt đặt Sa-lô-môn làm kẻ kế tự. Áp-sa-lôm vẫn còn là con quí của vua (IISa 13:37; 18:33); được cả dân sự coi là kẻ kế nghiệp (IISa 14:13; 15:1-6). Sự chết của Áp-sa-lôm, khi Sa-lô-môn mới chừng mười tuổi, khiến bỏ chỗ kế vị trống không, và Đa-vít đã hứa cách kín đáo với Bát-Sê-ba rằng Sa-lô-môn sẽ là kẻ kế tự (ICác 1:13). Lời nói ít lâu về sau, chắc tỏ ra mục đích cai trị cả đời Đa-vít (ISử 28:9, 20). Đa-vít không muốn đời sống của Sa-lô-môn giống như của mình, là đời nặng nhọc và chiến trận, những tội ác đen tối và những sự ăn năn thống hối. Ông muốn suốt đời Sa-lô-môn sống trong sạch, không vết, bình an, đầy dẫy lý tưởng của vinh hiển và công bình, những điều mà chính Đa-vít hết sức tìm kiếm nhưng vô hiệu. Những sự hiện thấy vẻ vang trong Thi 72:1- có thể coi là lời tiên tri mở rộng về những hy vọng trong lúc tuổi già của Đa-vít. Đến đây, mọi việc đều tốt đẹp. Song ta cũng biết rằng những năm sau của đời Đa-vít đã có nhiều biến cố quan trọng. Ta không thể tin rằng ảnh hưởng của Đa-vít trên các con trai mình đều là tốt cả. Không có gì biết về Bát-Sê-ba khiến ta nghĩ rằng bà có thể nung đúc trí và lòng của con mình đến một trình độ cao hơn. Dưới những ảnh hưởng đó, Sa-lô-môn lớn lên. Chừng 10 hoặc 11 tuổi, Sa-lô-môn phải qua sự loạn nghịch của Áp-sa-lôm, và dự phần trong sự trốn chạy với cha (IISa 15:16). Chắc Sa-lô-môn đã được học hỏi qua các thầy tế lễ và người Lê-vi, hoặc tiên tri có thể dạy. Dầu hết thảy mọi sự đó là tốt, nhưng ta tin rằng đời sống của một người chăn chiên giống như của Đa-vít cha vua, có thể cung cấp một nền học vấn tốt hơn cho chức vị vua (Thi 78:70, 71).

Sự yếu đuối của Đa-vít lúc tuổi già đã khiến A-đô-ni-gia có ý định chiếm ngôi vua mà Đa-vít đã quyết định cho Sa-lô-môn. A-đô-ni-gia, con trai của Đa-vít, sanh ra kế sau Áp-sa-lôm, giống như Áp-sa-lôm “là người rất đẹp” (ICác 1:6); khi trưởng thành đã trở lòng phản nghịch cha cùng với những người bạn già nhứt và các mưu sĩ của cha. Đi theo đường lối của Áp-sa-lôm, A-đô-ni-gia sắm sẵn cho mình xe và một đội thị vệ như làm vua. Cuối cùng, người ta chọn một nơi để tôn người làm vua cách tỏ tường. Một sự kiêng ăn tại Ên-Rô-ghên để bắt đầu cuộc trị vì của A-đô-ni gia. Khi thấy quyền lợi của con sắp mất. Bát-Sê-ba vội vàng họp bàn với Na-than. Vua Đa-vít được nghe nhắc lại lời thề của mình, bèn cho Sa-lô-môn đi xuống Ghi-hôn và tại đó được xức dầu để được tôn làm vua năm 20 tuổi. Những tiếng kêu của người theo hộ vệ Sa-lô-môn đến tai những khách ngồi trong bàn tiệc của A-đô-ni-gia, họ lập tức lần lượt đứng dậy, và đi. Âm mưu đã thất bại, ít tháng sau, khi Đa-vít qua đời Sa-lô-môn làm vua một mình trên ngôi, nước người được lập rất vững bền, trước đó chưa từng thấy và sau cũng không hề có. Nước Y-sơ-ra-ên bấy giờ có một địa vị quan trọng giữa các nước quân chủ lớn ở phương Đông. Những kho tàng lớn lao trải qua nhiều đời trước đây được để lại cho Sa-lô-môn.

Về hình dáng bên ngoài của Sa-lô-môn, không thấy tả trực tiếp như các vua trước. Dầu vậy, cũng có tài liệu để làm cho đầy đủ. Bất luận ý nghĩa mầu nhiệm nào ngấm ngầm trong Thi 45:1-, hoặc trong sách Nhã Ca, ta buộc phải nghĩ rằng các bài ca đó ít nhứt phải có khởi điểm từ lịch sử. Các bài nầy cho ta biết Sa-lô-môn là người thế nào dưới con mắt người đời bấy giờ: “Đệ nhứt trong muôn người, ” mặt “trắng và đỏ” như cha vua (Nhã 5:10 so ISa 17:42), “lọn tóc người quăn đen như quạ, ” có ánh vàng lấp lánh, mắt mềm mại như “mắt bồ câu, ” “tướng mạo người tợ như núi Li-ban, xinh tốt như cây hương nam, ” “thật toàn thể cách người đáng yêu đương” (Nhã 5:9-16). Thêm vào đó, vua có thiên tài, rất mực trí thức, sẵn lòng thương rộng rãi, tánh người vui, môi “đầy tràn ơn điển, ” linh hồn được xức dầu “bằng dầu vui vẻ” (Thi 45:1).Với những sự diển tả như vậy, ta có thể biết hình ảnh Sa-lô-môn lúc rạng đông của đời mình là thể nào.

Truyện kể những việc xảy ra rất sớm trong thời trị vì của Sa-lô-môn ở ICác 2:1- thì hơi khó hiểu. Bát-Sê-ba trước đã xui giục Đa-vít nghịch cùng A-đô-ni-gia, bây giờ tỏ ra cầu thay cho người, xin Sa-lô-môn cho phép A-đô-ni-gia cưới A-bi-sác, vợ bé đồng trinh của Đa-vít, làm vợ. Cho đến nay Sa-lô-môn vẫn tỏ lòng tôn kính mẹ mình, song khi nghe điều đó thình lình bừng nổi giận. Lời xin nầy được coi là một phần âm mưu mà Giô-áp và A-bi-a-tha có dự phần. A-đô-ni-gia bị xử tử lập tức. Giô-áp bị giết ngay ở trong châu vi của Hội mạc, là nơi người đã ẩn trốn. A-bi-a-tha bị cách chức, bị đày đi, sống một đời nghèo khổ và sỉ nhục (ICác 2:31-36), chức thầy cả thượng phẩm được phong cho chi họ khác. Xem bài Sa-đốc.

II. Đời trị vì.– Lịch sử đời Sa-lô-môn trị vì chép kỹ ở ICác 1:1–11:1-; ISử 28:1-; 29:1-; IISử 1:1–9:1-. Song những điều ghi chép đó đều lượm lặt ở trong các sách lich sử đương thời, như “sách hành trạng của Sa-lô-môn” (ICác 11:41), “sách truyện của tiên tri Na-than, ” “sách tiên tri của A-hi-gia, ” và “sách dị tượng của Giê-đô” (IISử 9:29). Từ đó có thể biết rằng: a) Thời gian Sa-lô-môn trị vì là 40 năm, 1015-975 T.C. (ICác 11:42) b) Khởi đầu xây Đền thờ, năm thứ tư trong đời trị vì, và làm xong năm thứ XI (ICác 6:1, 37, 38). c) Khởi đầu xây cung điện riêng mình năm thứ VII và làm xong năm thứ XX trong đời trị vì (ICác 7:1; IISử 8:1). d) Chinh phục Ha-mát Xô-ba và sau đó lập những thành ở miền Bắc xứ Pha-lê-tin, sau năm thứ XX trị vì (IISử 8:1-6). Nhờ tài liệu kể trên, nay xin sắp đặt những việc chính vào một trật tự để có thể hiểu rõ hơn.

III. Chính sách ngoại giao.–1. Với Ai-cập.– Khi mới lên ngôi, công việc ngoại giao trước nhất của Sa-lô-môn, đối với dân Y-sơ-ra-ên là một việc rất đỗi ngạc nhiên. Sa-lô-môn cầu thân với Pha-ra-ôn, vua Ai-cập, và cưới công chúa xứ đó (ICác 3:1). Những kết quả ngay sau đó có vẻ tốt đẹp. Hoàng hậu đem theo với mình một thành trên biên giới Ghê-xe làm của hồi môn, là thành đã ngăm đe sự yên ổn của Y-sơ-ra-ên, và nơi đây cũng còn một số dân Ca-na-an sót lại, mà chính Pha-ra-ôn đã dẫn quân đi đánh. Công chúa được tiếp đãi với tất cả sự long trọng. Khỏi ít lâu, Sa-lô-môn xây cho công chúa một cung điện riêng rất nguy nga, ở ngoài thành Đa-vít (IISử 8:11). Kết quả cuối cùng của cuộc kết liên đó hóa ra rỗng không và không hợp chính trị. Có lẽ đã có một sự cải cách trong xứ Ai-cập và về sau có sự thay đổi chính sách ngoại giao, hoặc Ai-cập đã có thảo một âm mưu trước hết dẫn đến sự phản loạn của 10 chi phái, và sau Si-sắc, vua Ai-cập đã đem quân đánh nước hèn yếu và không phòng thủ của con Sa-lô-môn.

2. Ty-rơ.– Sự kết giao với vua Phê-ni-xi có những lý do khác nhau: Đo là một phần của chính sách từ hồi Đa-vít bắt đầu trị vì. Hi-ram, vua Phê-ni-xi, bao giờ cũng vẫn là bạn thân’ của Đa-vít. Khi nghe Sa-lô-môn lên ngôi, thì Hi-ram sai sứ giả đến chúc mừng. Có một sự bang giao giữa hai vua, cuối cùng với một hòa ước về thương mại. Mở cửa Joppa, như là một hải cảng lập lên cho các bờ biển thông thương, và những vật liệu từ Ty-rơ chở bằng tàu đến Gia-phô và sau từ đó đến Giê-ru-sa-lem (IISử 2:16). Để đáp lại, người Phê-ni-xi rất vui khi nhận được thóc gạo và dầu của Sa-lô-môn gởi tới. Những kết quả của cuộc liên minh đó không hết ngay ở đây. Bấy giờ, lần thứ nhứt trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên, dân sự được học nghề thương mại. Họ theo người Phê-ni-xi trong các cuộc hành trình qua biển Địa-trung-hải đến Y-pha-nho. Bờ biển xứ Ê-đôm là thuộc Sa-lô-môn, nên vua có thể mở cho đồng minh mình một thế giới thương mại mới. Những cảng Ê-lát và Ê-xi-ôn Ghê-be đầy dẫy những tàu Ta-rê-si, những tàu buôn, phần chính là bởi người Phê-ni-xi trông coi, song đóng bằng tiền chi phí của Sa-lô-môn, giương buồm đến vịnh Aelanitic trong Biển Đỏ, cứ đi tới Ấn-độ-dương, đến những xứ mà trước kia tên cũng ít biết đến.

Theo lời kể lại của các văn sĩ người Phê-ni-xi mà Josèphe trích lại, sự giao hiếu giữa hai vua cũng có sự vui vẻ và thiết nghĩa. Hai vua ưa thích đố nhau bằng những câu hỏi khó và đặt giải thưởng cho người có thể đáp được. Khúc lịch sử xen vào trong ICác 9:11-14 chép rằng Sa-lô-môn nhường cho Hi-ram 16 thành, mà Hi-ram không thỏa lòng, có lẽ cũng liên quan với những giải thưởng đó.

3. Đó là hai cuộc bang giao quan trọng nhất trong đời Sa-lô-môn. Về việc không chép đến sự bang giao với Ba-by-lôn và A-sy-ri thì lý do là lúc bấy giờ Sa-lô-môn quản trị trên các vua, từ sông Ơ-phơ-rát cho đến xứ Phi-li-tin, và cho đến bờ cõi Ê-díp-tô (IISử 9:26). Câu này gợi ý rằng vào hồi đó các hoàng đế Mê-sô-bô-ta-mi đã suy nhược, các nước lân cận khác đều bằng lòng hằng năm nộp thuế làm của tiến cống cho Y-sơ-ra-ên (IISử 9:24).

4. Sự kiểm soát và ảnh hưởng Sa-lô-môn trên các nước lân cận khó xem xét hết nếu ta bỏ qua ảnh hưởng về danh tiếng về sự giàu có, vinh hiển và khôn ngoan của người. Bất cứ nơi nào các tàu Ta-rê-si đến, họ cũng đem về không bỏ sót gì, những sự mà thủy thủ đã thấy và nghe về Sa-lô-môn. Cuộc hành trình của nữ vương Sê-ba đến viếng Sa-lô môn là điều minh chứng. Bà đã nghe về sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, có liên quan đến “danh của Đức Giê-hô-va” (ICác 10:1). Bà đến, đem những câu hỏi khó để thử sự khôn ngoan của Sa-lô-môn và vua đã giải đáp các câu hỏi của bà một cách dễ dàng, chẳng có câu nào ẩn bí quá cho vua. Những sử gia của Y-sơ-ra-ên ưa thích lời xưng nhận của bà, tức là sự thật còn hơn tiếng đồn “Kìa… người ta chẳng thuật cho tôi nghe phân nửa sự khôn ngoan lớn lao của vua” (IISử 9:6).

VI. Lịch sử trong nước.–1. Điều đặc biệt nhất trong đời Sa-lô-môn trị vì là một hình ảnh bày tỏ mặt cao thượng của tánh tình Sa-lô-môn:–Lúc bấy giờ, vì chưa xây cất đền thờ nên dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời tại hai nơi thánh, đó là nơi đặt hòm giao ước và hội mạc tạm tại Giê-ru-sa-lem và nơi thứ hai là Đền tạm của hội chúng, sau khi lưu lạc nhiều nơi bấy giờ đóng tại Ga-ba-ôn. Vậy, Sa-lô-môn phải dâng những tế lễ trọng thể tại cả hai nơi ấy. Sau những tế lễ ở Ga-ba-ôn, thì có sự hiện thấy ban đêm, Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-lô-môn rằng: “Hãy xin điều gì ngươi muốn ta ban cho ngươi.” Sa-lô-môn đã không xin sự giàu có, hoặc sống lâu, hoặc đắc thắng hơn kẻ thù, song xin “một tấm lòng thông sáng” để có thể xét đoán dân sự. “Lời của Sa-lô-môn đẹp lòng Chúa.” Sự khôn ngoan mà vua cầu xin đã được Đức Chúa Trời ban cho rất rộng rãi. Ngài ban cho vua sự khôn ngoan và tri thức để xét đoán dân sự, đồng thời ngài cũng ban cho vua sự giàu có vinh hiển đến nỗi trước và sau vua chẳng có ai được như vậy. Sách ICác 3:16-28 có chép một truyện minh chứng về sự xử đoán khôn ngoan của vua Sa-lô-môn. 2. Nói về tài chánh của vua Sa-lô-môn, điều trước nhứt cho ta thấy là sự đầy đủ dư dật. Rất nhiều loài kim khí quí được nhập cảng từ Ô-phia và Ta-rê-si (ICác 9:28). Hết thảy các vua và các quan trưởng của các tỉnh đã hàng phục vua, họ nộp thuế làm đồ tiến cống, bằng tiền hoặc bằng đồ vật “cứ hằng năm theo lệ định” (ICác 10:25). Những con buôn của vua nộp thuế cho kho bạc (ICác 10:28, 29) Những đất thuộc về vua dường như cho thuê với một thuế huê lợi hằng năm (Nhã 8:11). Mỗi tỉnh trong nước cũng buộc phải lần lượt cung cấp lương thực cho hoàng gia đông đúc (ICác 4:21-23). Như vậy, số tiền tổng cộng bằng vàng nộp trong kho, trừ hết thảy mọi thuế bằng vật, là 676 ta lâng (ICác 10:14).

3. Dầu vậy, khó có một nền tài chánh nào chịu được sự tiêu xài xa xỉ của vua. Ngoài tiền chi phí xây dựng Đền thờ (thật ra số tiền này đã sắm sẵn bởi công quỹ của Đa-vít và những của lễ của dân sự), vua còn cho xây thêm nhiều cung điện khác nữa. Hết thảy những sự lộng lẫy của cung điện, “cách ăn mặc” của các đầy tớ phục vụ trong cung vua, một đội thị vệ theo hầu vua, có “sáu mươi người mạnh dạn” cao và đẹp nhứt trong dân Y-sơ-ra-ên. Có 4000 ngựa cho các xe, và 12.000 lính kỵ, những điều đó tượng trưng cho sự sang trọng của vua (ICác 4:26). Với những chi phí quá lớn như vậy làm cho kho bạc trở nên rỗng, khi kho bạc rỗng thì thuế càng tăng, và những con buôn của vua càng khó nhọc hơn. Dân sự phàn nàn không phải vì vua thờ hình tượng, song vì gánh nặng, vì “ách nặng quá” (ICác 12:4). Dân sự ghen ghét A-đô-ni-ram hơn hết vì người coi sóc việc thuế má.

4. Sự mô tả Đền thờ mà Sa-lô-môn xây cất chép ở trong bài khác. Sau bảy năm rưỡi công việc hoàn thành và ngày khánh thành Đền thờ đã đến, hết thảy người Y-sơ-ra-ên vui mừng thấy vinh hiển tuyệt đối của nước họ. Hòm giao ước từ Si-ôn, Đền tạm tại Ga-ba-ôn, thảy đều dời đến Đền thờ mới (IISử 5:5). Trong dịp lễ khánh thành Đền thờ cách trọng thể, riêng vua là trung tâm của buổi lễ, cả đến thầy tế lễ và các tiên tri bấy giờ chỉ là phụ thuộc. Vua dâng lời cầu nguyện cao trọng, lời cao thượng nhứt của sự tin kính Y-sơ-ra-ên, giãi bày sự xa và sự gần của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, là Đấng Độc-nhứt, không thể hiểu được, không ở trong các Đền thờ bởi tay người làm ra, dầu vậy, Ngài còn cai trị người, nghe lời người cầu nguyện, và cho người mọi sự tốt lành, khôn ngoan, bình an, công bình.

5. Chúng ta không thể không biết thực sự rằng cả đến lúc nầy cũng còn có mấy vết đen trên bức tranh của cuộc đời Sa-lô-môn. Để xây dựng Đền thờ và những cung điện, Sa-lô-môn bắt “những khách lạ” trong xứ, phần sót lại của dân Ca-na-an, làm tôi mọi, và khiến cho đời họ “cay đắng hơn” với những gánh nặng. Tính trung bình có 153.000 người ngoại quốc cả vợ và con, bị chia lìa khỏi gia đình và sai đến mỏ đá và rừng Li-ban để làm việc (ICác 5:15; IISử 2:17, 18). Vua chẳng bao lâu từ nơi cao nhứt của đời đạo đức mình sa xuống vực sâu thẳm nhứt. Các thầy tế lễ và các tiên tri phiền não về những đền thờ tà thần mà vua đã xây dựng cho các thần Mo-lóc, Kê-mốt, Át-tạt-tê, vua làm những nghi lễ cúng thờ hình tượng, tham dự vào những việc hung dữ, tối tăm và ô uế của dân ngoại. Sự xấu xa nầy là kết quả của “các hoàng hậu ngoại” (ICác 11:1-8); vì “Sa-lô-môn tríu mến những người nữ ấy.” Chính mình vua cũng bị mê hoặc và dẫn đến sự thờ các thần lạ. Có lẽ có một sự gì trong chính “tấm lòng rộng rãi” của Sa-lô-môn, đã làm lu mờ đi sự khôn ngoan cũng như những tư tưởng cao và rộng về Đức Chúa Trời, đến nỗi Sa-lô-môn sẵn sàng sa ngã. Khi nhận biết điều gì có thể chấp nhận được trong những đạo khác, thì Sa-lô-môn không còn gớm ghiếc điều dối trá, xấu xa của nó. Có lẽ còn có lý do chính trị lẫn lộn với khuynh hướng đó. Chắc rằng, Sa-lô-môn đã hy vọng, với chính sách tự do tín ngưỡng vua sẽ làm hòa với những vua lân cận, để dẫn họ đến sự bang giao rộng rãi hơn. Song có lẽ cũng có một lý do khác ít thường thấy, nhưng không phải là không có nền tảng của sự thật đó là Sa-lô-môn muốn tuyên truyền tôn giáo phương Đông qua những tài ma thuật của mình. Sau đó, có những lụn bại tiếp theo, là kết quả tự nhiên của sự sai lầm về chính trị cũng như tội lỗi về tôn giáo. Sức mạnh của dân Y-sơ-ra-ên là căn cứ ở sự hiệp một và sở dĩ có sự hiệp một đó, là nhờ đức tin của quốc dân. Bất luận lễ nghi ngoại giáo mà Sa-lô-môn dẫn vào có những hấp lực gì đối với phần lớn dân sự, song những thầy tế lễ và người Lê-vi chắc không vui khi thấy những sự thờ lạy ganh đua đó.Bởi thế, sự sốt sắng của ban thứ tiên tri bấy giờ bùng lên phản đối hết sức (ICác 11:28-39). Vua thử ngăn trở cuộc vận động mạnh mẽ nghịch cùng mình song vô hiệu. Những sự ghen ghét giữa các chi phái xưa bấy giờ trở lại. Ép-ra-im một lần nữa sửa soạn tranh với Giu-đa về địa vị đứng đầu. Tiên tri A-hi-gia tỏ cho Giê-rô-bô-am là người Ép-ra-im “trẻ tuổi và có tài năng, ” biết Đức Chúa Trời sẽ xé 10 chi phái khỏi tay Sa-lô-môn mà cho người (ICác 11:28, 29), và Giê-rô-bô-am từ đó trở nên người phản đối Sa-lô-môn, song chỉ lên ngôi cai trị 10 chi phái khi Sa-lô-môn qua đời và Rô-bô-am nối ngôi. Bên trong có sự suy nhược lại thêm sự công kích bên ngoài. Vua bấy giờ, chóng “già yếu, ” chắc đã thấy trước sự chia rẽ mau chóng của nước quân chủ lớn mà mình kế vị. Về những sự thay đổi trong trí và lòng của Sa-lô-môn Kinh Thánh nói đến rất ít. Có thể biết một đôi điều từ những sách có tên của vua, và từ ít tài liệu còn lại ở các bài hát, châm ngôn và bài luận thuyết mà sử gia nói đến (ICác 4:32, 33). Kinh Thánh ghi Sa-lô-môn nói 3000 câu Châm Ngôn và làm 1005 bài hát, nhưng những tài liệu này ta không biết chút gì cả. Những bài mà chúng ta biết được tỏ ra ba bậc trong đời sống Sa-lô-môn: a) Nhã Ca tỏ ra sự sáng láng của thời thanh niên. b) Kế đến sách Châm Ngôn, ở bậc tư tưởng trưởng thành và chín chắn. c) Ở sách Truyền đạo, thi sĩ đã trở nên nhà triết học, người thông biết sự thuộc linh từ Chúa trở nên một nhà luân lý. Người vượt qua cả hai bậc, song không có lợi gì mãi mãi. Hai bậc đó dường như chỉ là những sự đã biết trong đời sống mình tức “thảy đều hư không” (Truyền 1:1-; 2:1-). Bởi đó như tỏ ra trong những lời xưng nhận của nhà Truyền đạo, ta thấy cósự tương ứng với cuộc đời của Sa-lô-môn.

V. Những chuyện hoang đường.– Qua những sự thực của lịch sử, là những điểm chính, chúng ta còn thâu họp được rất nhiều phù ngôn kỳ khôi của người Do-thái, tín đồ Đấng Christ, và Hồi giáo nói về Sa-lô-môn. Nay ở trong Targums về sách Truyền đạo, cũng thấy nhiều truyện lạ về tính cách Sa-lô-môn để lại những thuật, những phép chữa bịnh và trừ các quỉ. Sự khôn ngoan của vua khiến có thể thông giải tiếng của loài thú, loài chim. Sa-lô-môn biết những đức tánh bí mật của đá quí và cây cỏ. Trí tưởng tượng của người A-rập cũng bày tỏ nhiều sự còn lạ hơn. Họ nói rằng: sau một cơn chiến đấu mạnh mẽ với Afreets và Jinns, Sa-lô-môn chinh phục chúng và ném chúng xuống biển, Sa-lô-môn có một nhẫn ma thuật tỏ cho mình biết quá khứ, hiện tại và tương lai. Khi nữ hoàng Sê-ba đến thăm viếng Sa-lô-môn, vua cũng tặng cho bà ba hay bốn tiểu thuyết nữa.

Ta điểm qua từ những truyện hoang đường của người Do-thái, những phù ngôn của dân ngoại, đến một điều khác hoàn toàn trái ngược hết thảy đó là Tân Ước. Sự dạy dỗ của Tân Ước không thêm gì vào tài liệu để viết tiểu sử Sa-lô-môn. Sự dạy dỗ đó giúp đỡ ta biết lượng đức tin thật của đời sống đó. Chúa Jêsus có phán đoán về sự sang trọng của vua: “Dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không mặc áo tốt như hoa nào trong giống đó” (Mat 6:29). Chỉ Con thật của Đa-vít sanh ra sau, có thể làm ứng nghiệm những sự ước ao của lời tiên tri đã tỏ ra lúc Sa-lô-môn ra đời. Chúa là Shelomôn thật, Chúa bình an, Giê-đi-đia thật, Đấng ma Đức Chúa Cha yêu dấu.

Lên đầu trang