Rô-ma tức La-mã, Thơ

Rô-ma tức La-mã, Thơ Letter to the Romans. Épitre aux Romains.

I. Nơi viết và niên hiệu.– Theo thứ tự Tân Ước, thơ La-mã là bức thơ thứ nhứt trong các thơ Phao-lô, song theo thứ tự Phao-lô viết thì là thứ sáu. Cứ theo niên hiệu của thơ là chắc chắn hơn. Những điều sau đây ấn định thời gian chép thơ. (1) Mấy tên trong lời chào thăm của thơ chỉ thành Cô-rinh-tô là nơi đã gởi thơ đi. a) Phê-bê, nữ chấp sự của Hội Thánh Xen-cơ-rê là một trong các cảng của thành Cô-rinh-tô, được gởi gắm cho tín đồ La-mã (16:1, 2). b) Gai-út là tín đồ đã tiếp đãi Phao-lô (16:23), có lẽ là Gai-út được ghi trong ICôr 1:14, là một trong những người đứng đầu Hội Thánh Cô-rinh-tô. c) Ê-rát, quan kho bạc thành phố (16:23), chỗ khác cũng chép có liên quan đến thành Cô-rinh-tô (IITi 4:20; cũng xem Công 19:22. (2) Đã nhứt định nơi chép thơ là thành Cô-rinh-tô như thế, thì không còn ngần ngại mà quyết rằng sự thăm viếng của Phao-lô chép trong Công 20:3 là vào khoảng mùa Đông và mùa Xuân theo sau. Phao-lô đã ngụ rất lâu tại thành Ê-phê-sô, đây là dịp tiện để Sứ đồ viết thơ La-mã. Khi Phao-lô viết thơ thì đang lúc đem tiền quyên ở Ma-xê-đoan và A-chai đến Giê-ru-sa-lem (15:25-27), và khi so với Công 20:22; 24:17 và ICôr 16:4; IICôr 8:1, 2; 9:1, tỏ ra bấy giờ Phao-lô bận lo việc đó. Vậy, chúng ta biết rằng thơ được viết tạICôr trong cuộc Phao-lô lưu hành truyền đạo lần thứ ba, vào dịp thứ hai trong hai lần thăm viếng như kể trong Công vụ các sứ đồ. Lần nầy Phao-lô ở lại ba tháng tại nước Hy-lạp (Công 20:3). Theo niên hiệu có lý hơn cả ấy là nhằm năm 58 S.C..

Bởi thế, về phần niên hiệu chép, thì thơ La-mã liên quan với mấy thơ gởi cho hội Ga-la-ti và Cô-rinh-tô, vì mấy thơ đó viết trong 12 tháng trước. Qua lối hành văn cùng các dữ liệu, thì những thơ nầy giống nhau một cách lạ, –giống hơn các thơ khác của Phao-lô.

II. Dịp tiện và cảnh ngộ gởi thơ.–Đã lâu, Phao-lô có ý sang thành La-mã và vẫn còn giữ ý đó, ông cũng ao ước mở rộng cuộc hành trình sang Y-pha-nho nữa (1:9-13; 15:22-29). Lúc đó, Phao-lô tạm thời bị ngăn trở vì bị ràng buộc phải tới Giê-ru-sa-lem với những tiền quyên giúp cho các tín đồ ngoại bang; nên trong khoảng thời gian nầy, Phao-lô gởi thơ cho La-mã để thay thế cho sự thiếu sót không được thân hành đến dạy dỗ. Phê-bê, nữ chấp sự Hội Thánh Xen-cơ-rê ở lân cận Cô-rinh-tô, sắp sửa khởi hành sang La-mã (16:1, 2), và có lẽ bà cũng đem thơ nầy theo với mình. Toàn thể bức thư Phao-lô đọc cho Tẹt-tiu chép (16:22), nhưng có lẽ sau lời chào thăm, chính tay Phao-lô viết thêm vào lời tạ ơn (16:24, 25).

III. Căn nguyên Hội Thánh La-mã.Thật không rõ ràng. Xem phần chót bài thành La-mã. Nếu Hội Thánh La-mã thật sự được thiết lập bởIPhi-e-rơ theo lời truyền khẩu về sau, thì việc không nói đến Phi-e-rơ trong cả thơ La-mã và trong các thơ khác mà Phao-lô đã viết tại La-mã, không thể giải nghĩa được. Cũng rất rõ chẳng phải Sứ đồ nào khác lập Hội Thánh La-mã. Sách Clémen-tines nói những tin tức đầu tiên về đạo Tin lành đã tới thành La-mã trong đời Đấng Christ thật dường như chỉ là điều bịa đặt để giúp ý kiến trên. Song có chứng cớ tỏ rõ Hội Thánh La-mã đã được thiết lập rất sớm. Có lẽ mấy người La-mã chép trong Công 2:10, 11, có mặt tại Giê-ru-sa-lem nhằm ngày lễ Ngũ tuần, đã đem tin đầu nhứt về đạo Tin lành tới La-mã; hoặc Tin lành đến La-mã bởi những tín đồ bị tan lạc để trốn thoát nạn bắt bớ sau khi Ê-tiên tử vì đạo (Công 8:4; 11:19). Có thể giả định rằng trước hết Tin lành được giảng tại đó một cách đơn sơ và không có hệ thống bởi một số ít người và được coi như chỉ là một giáo phái của Do-thái-giáo như về trường hợp A-bô-lô tạICôr (Công 18:25), hoặc các tín đồ tại Ê-phê-sô (Công 19:1-3). Song thời gian qua và khi các giáo sư học thức hơn về đạo Tin lành tới, thì những đám mây về đạo lần lần bay đi cho đến cuối cùng có sự hiện diện của chính Sứ đồ lớn là Phao-lô tại thành La-mã, làm tan đám sương mù của Do-thái-giáo còn bao phủ Hội Thánh La-mã.

IV. Các tín đồ Hội Thánh La-mã.– Khi Phao-lô viết thơ, thì nói với một Hội Thánh lẫn lộn người Do-thái và người ngoại bang, có lẽ số dân ngoại đông hơn. Nhưng trong thơ có mấy đoạn tỏ ra có một số đông người Do-thái tin nhận đạo Đấng Christ. Nếu phân tích danh sách các tên người trong đoạn 16 của thơ Rô-ma thì thấy rằng danh sách đó gần như bày tỏ sự cân đối giữa người Do-thái và người ngoại bang, dường như một phần đông các tín đồ Đấng Christ là người Do-thái, còn lại những tín đồ mang tên Hy-lạp và La-tinh là người ngoại bang. Những phu tù mà Pompey đem sang La-mã họp lại thành trung tâm điểm của dân cư Do-thái tại La-mã, từ đó người Do-thái càng ngày càng thêm. Vì ở trong Kinh thành của một đế quốc ngoại đạo lớn, chắc hẳn phần lớn tín đồ Hội Thánh La-mã là dân ngoại, và ngôn ngữ của thơ La-mã đã bày tỏ lời giả định đó. Song các tín đồ dân ngoại đó phần nhiều không phải là người sanh trưởng tại La-mã. Dầu thật lạ, nhưng không có gì chắc chắn hơn là Hội Thánh La-mã lúc bấy giờ là một Hội Thánh Hy-lạp, chớ không phải là một Hội Thánh La-tinh. Bởi đó, hết cả văn thơ Hội Thánh La-mã đầu tiên đều viết bằng tiếng Hy-lạp, và tên các giám mục tại La-mã trong hai thế kỷ đầu; chỉ trừ vài tên đều là tên Hy-lạp. Trong lời chào thăm của đoạn 16:1- có phần lớn tên là bằng tiếng Hy-lạp. Khi tra xét các tên trong lời chào thăm đó, thì ta có thể biết giai cấp và địa vị tín đồ Hội Thánh La-mã là thể nào. Phần đông tín đồ đó thuộc hạng trung lưu và hạ lưu; chúng ta cũng thấy tên những người nô lệ được giải phóng và các nô lệ của hoàng đế trước. Giữa vòng người trung lưu, hoặc buôn bán hay sĩ quan nhỏ; giữa vòng người hạ lưu, hoặc những tôi tớ hay nô lệ đã được giải phóng của cung điện hoàng đế; bất cứ người Do-thái hay người Hy-lạp, thì đạo Tin lành trước hết cũng được lập cách vững vàng. Phil 4:22 nói đến hạng người cuối cùng tức “về người nhà Sê-sa” là những người nô lệ của cung điện hoàng đế.

V. Tính cách chung của thơ. Khi xem xét sự khác nhau giữa các hạng tín đồ của Hội Thánh La-mã, thì chúng ta có thể hiểu được tính cách chung của thơ. Trong một tập thể có các hạng người khác nhau như thế, chẳng phải chỉ có một sự sai lầm mà thôi, song chắc còn nhiều sự sai lầm khác nhau và trái ngược nhau nữa. Bởi vậy, công việc của các giáo sư dạy đạo Đấng Christ là làm cho các sự khó khăn phản đối nhau được hòa hiệp, và nhờ đạo Tin lành để cho các tín đồ hiệp làm một trong ánh sáng Ngài. Ấy chính là công việc Phao-lô thử làm trong thơ La-mã. Lại nữa, dường như bức thơ không phải đặc biệt được viết để trả lời mấy vấn đề hồ nghi hoặc giải quyết mấy vụ cãi lẫy thường xảy ra. Bởi vậy, không có ảnh hưởng lộn xộn nào, hoặc về sự thân thuộc của cá nhân hoặc những cảnh ngộ riêng, để ngăn trở Phao-lô viết một thơ chung theo thứ tự giải nghĩa tinh cách và công việc của Tin lành. Vì vậy, thơ La-mã thật là một bài luận thuyết hơn là một bức thơ. Về mặt nầy, thơ La-mã khác xa với hai thơ Cô-rinh-tô và thơ Ga-la-ti, là ba thơ đầy những lời ngụ ý riêng và trực tiếp. Trong thư chỉ có một chỗ, 13:1, dường như có ý nói riêng về Hội Thánh ở Kinh thành La-mã, về sự vâng phục các bậc cầm quyền.

VI. Thơ La-mã liên quan với các thơ đồng thời thế nào.– Để giải nghĩa tính cách chung đó thì cần phải tra xét sự liên quan giữa thơ La-mã với các thơ đồng thời của Phao-lô. Thơ La-mã là thơ chót của các thơ Phao-lô viết trong cuộc lưu hành truyền đạo lần thứ ba. Ngoài thơ nầy ra, như đã nói trên, gồm các thơ Cô-rinh-tô và Ga-la-ti viết nội trong mấy tháng trước. Trong thơ gởi cho hai Hội Thánh nầy, ta thấy thái độ của Tin lành đối với thế giới tín đồ ngoại bang và tín đồ Do-thái, thơ nào thì liên quan tới Hội Thánh đó. Những thơ nầy đặt trực tiếp và riêng biệt. Thơ La-mã là bài tóm tắt những điều mà Phao-lô đã viết trước, đó là sự dạy dỗ các tín đồ cần có tinh thần hiệp một trong Chúa, vượt qua những sự cách biệt, phản đối nhau. Thư này cũng thâu góp những sự đã dạy dỗ trong thơ Cô-rinh-tô và Ga-la-ti.

VII. Một điều đặc biệt về nguyên bản.– Về nguyên bản thơ La-mã có một điều đặc biệt: trong thơ được ghi vào Kinh Thánh thì có lời tạ ơn của Phao-lô ở cuối cùng (16:25-27). Chúng ta thấy sự sắp đặt như vậy là hợp lý, song có nhà giải nghĩa trứ danh lại đặt lời tạ ơn đó ở cuối đoạn 14. Một bản khác lại thấy lời tạ ơn ghi trong cả hai chỗ; cũng có bản bỏ cả hai. Điều đặc biệt đó có thể giải nghĩa cách đúng nhứt bằng sự giả định rằng thơ La-mã được lưu hành rất sớm bằng hai bản (nếu trong đời Phao-lô không cần phải luận đến): bản có cả lời tạ ơn và một bản không có hai đoạn chót.

VIII. Mục đích và nội dung của thơ.– Về mục đích của thơ, ta có thể dùng bằng chính lời mở đầu thơ của Phao-lô phần về lẽ đạo, cũng có thể coi là tóm tắt cả tài liệu nữa (1:16, 17). Hiệp với ý đó, có người đã mô tả bức thơ là “triết học tôn giáo của lịch sử thế gian.” Trung tâm điểm của lịch sử tôn giáo là sự chuộc tội của Đấng Christ. Thơ nầy cũng trả lời câu hỏi: “Làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời” (Gióp 9:2). Vậy, thơ tỏ ra dạy dỗ phương pháp của Đức Chúa Trời làm cho loài người được trở nên công bình.

Thơ La-mã nhìn chung dễ phân tích hơn phần nhiều thơ khác của Phao-lô. Dưới đây là bảng kê về nội dung bức thơ:

Lời chào thăm (1:1-7). Ngay phần mở đầu, Phao-lô tỏ rõ chìa khóa của thơ khi viết: “được gọi làm Sứ đồ, ” và “được gọi làm thánh đồ.” Ơn điển của Đức Chúa Trời đủ cho mọi sự, công đức của con người chẳng đáng giá gì.

1. Lời giải thích riêng.– Định sang thăm thành La-mã (1:8-15).

2. Lẽ đạo (1:16-11:36). Điều đề nghị chung.– Tin lành là sự cứu rỗi của người Do-thái cũng như của dân ngoại. Sự cứu rỗi nầy đến bởi đức tin (1:16, 17). a) Hết thảy mọi người đều như nhau: người ngoại bang (1:18-32); người Do-thái (2:1-29), đều ở dưới sự đoán phạt trước khi có Tin lành. Sự phản đối điều đó được trả lời (3:1-8), và chính địa vị đó được tỏ rõ bởi Kinh Thánh (3:9-20). b) Sự công bình, (được xưng là công bình) nhờ Tin lành được bày tỏ, bởi đức tin không phải bởi luật pháp, cho tất cả mọi người (3:21-26). Vậy, chúng ta không có cớ mà khoe mình (3:27-31). Về sự công bình bởi đức tin đó, Áp-ra-ham đã làm gương (4:1-25). Như vậy, ta được xưng công bình trong Đấng Christ, nên ta chỉ khoe về Ngài (5:1-11). Sự được xưng công bình trong Đấng Christ đó cũng dành cho tất cả mọi người như sự đoán phạt trong A-đam (5:12-19?). c) Những kết quả đạo đức của sự giải cứu ta. Luật pháp ban bố chỉ làm cho thêm nhiều tội (5:20, 21). Khi ta chết về luật pháp, thì ta cũng chết về tội lỗi (6:1-14). Sự phá bỏ luật pháp không phải là dấu cho phép buông lung (6:15-23). Trái lại, như luật pháp đã qua đi, tội lỗi cũng vậy; vì tội lỗi và luật pháp tương đương với nhau; ấy không phải khinh luật pháp, song thật ra là chứng cớ về sự yếu đuối của nhơn loại (7:1-25). Vậy, từ đó, trong Đấng Christ ta được thoát khỏi tội lỗi, ta có Đức Thánh Linh, và với niềm hy vọng đó chúng ta cứ trông đợi tương lai để đắc thắng hơn những sự khốn khổ hiện thời (8:1-39). d) Sự từ bỏ người Do-thái là một vấn đề buồn thảm vô cùng (9:1-5). Dầu vậy, ta phải nhớ rằng: (1) lời hứa chẳng phải cho cả dân sự, song chỉ cho một dòng dõi được lựa chọn (9:6-13). Mục đích tuyệt đối của Đức Chúa Trời sắp đặt như thế chẳng phải để loài người luận đến (9:14-19). (2) Người Do-thái không tìm sự công bình đúng phép, bởi vậy họ đã thất bại. Sự xưng công bình nầy được hứa là bởi đức tin, và dành cho hết thảy mọi người như nhau, tại đó cũng gồm cả sự giảng Tin lành cho dân ngoại. Tính cách và kết quả của thời đại Tin lành được tỏ trước trong Kinh Thánh (10:1-21). (3) Sự từ bỏ người Do-thái chưa phải là cuối cùng. Sự từ bỏ đã làm phương pháp để thâu hợp các dân ngoại, và bởi dân ngoại, chính những người Do-thái sau cũng được đem đến cùng Đấng Christ (11:1-36).

3. Những lời khuyên thực hành.– (12:1-15:13). a) Về sự thánh khiết của đời sống và sự yêu thương chung, phận sự phải vâng phục những kẻ cầm quyền (12:1-13:14). b) Phải khoan dung với kẻ kém đức tin, người mạnh kẻ yếu phải hòa hiệp nhau (14:1-15:13).

4. Những vấn đề riêng.– a) Lý do Sứ đồ viết thơ, và ý định đi thăm các tín đồ tại Hội Thánh La-mã (15:14-33). b) Lời chào thăm (16:1-23). Bức thơ kết thúc với lời chúc phước và lời tạ ơn (16:24-27).

Thơ La-mã này chứa đựng sự dạy dỗ của Sứ đồ một cách rất đầy đủ và có hệ thống, đồng thời cũng mô tả rõ rệt tính cách của Phao-lô. Không có thơ nào khác bày tỏ một cách đầy đủ về bản tánh yêu thương và chăm chỉ, sự khôn khéo và tỉ mỉ của Phao-lô như thơ La-mã. Trong thư cũng luận về vấn đề không vui như sự từ bỏ người Do-thái.

IX. Chứng cớ thơ là thật.– Chứng cớ trong thơ rất mạnh mẽ, tỏ ra thơ này do chính Phao-lô viết cho người La-mã, đến nỗi không ai nghi ngờ được. Chứng cớ bên ngoài cũng như thế. Các giáo phụ đời các Sứ đồ không hay nêu tên các trước giả Tân Ước, song trong các thơ của Clément và Policarpe có nhiều khúc trích từ thơ La-mã. Dường như thơ này cũng được trưởng lão trích để dùng trong thơ Irénée, tác giả bức thơ gởi cho Diognetius có ngụ ý đến, và Justin Martyr cũng vậy. Vả lại, thơ La-mã cũng có tên trong bản liệt kê của Muratori, bản Syriaqua và bản La-tinh cổ. Ngoài chứng cớ các văn sĩ chánh giáo hội, các nhà tà giáo sau đời các Sứ đồ như phe Ophites, Basilides Valentinus, và Ptolemaus, v.v., đều làm chứng thơ là thật, thì thơ cũng được vào bảng Kinh Thánh mà Marcion công nhận. Trong phần cuối thế kỷ thứ II, các bằng chứng về thơ La-mã là thật càng nhiều hơn nữa.

Tiến sĩ Scofield chú thích tiểu dẫn thơ La-mã:

Tác giả. Sứ đồ Phao-lô (1:1).

Niên hiệu.– Thơ La-mã, theo trật tự niên biểu là thơ thứ sáu của các thơ Phao-lô, viết tại thành Cô-rinh-tô trong khi Sứ đồ thăm viếng thành đó lần thứ ba (IICôr 13:1), độ 60 S.C. Phao-lô viết thơ nầy có ý nói ít lâu sau ông sẽ đến thăm La-mã. Phao-lô muốn rằng trước khi mình tới thì những lẽ thật đặc biệt đã được tỏ ra cho các tín đồ ở La-mã qua thư này rồi. Sứ đồ ước ao họ có những lời giảng dạy của chính mình về những lẽ đạo lớn của ân điển Chúa Cứu Thế, mà những lẽ đạo này đang bị công kích khắp nơi bởi các giáo sư luật pháp.

Chủ đề.– Chu đề của thơ La-mã là “Tin lành của Đức Chúa Trời” (1:1), có ý nghĩa rất rộng, bao gồm toàn thể chân lý cứu chuộc, vì chính Ngài “chẳng vị nể ai đâu” và chẳng phải “chỉ là Đức Chúa Trời của dân Do-thái, ” song “cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại” (2:11; 3:29). Bởi vậy, “cả thiên hạ” đều “nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời” (3:19). Một sự cứu chuộc được tỏ bày ra rộng rãi, chỉ cần một điều kiện là đức tin. Không những thơ La-mã chứa đựng cách đầy đủ những lẽ đạo về ân điển liên quan tới sự cứu rỗi, song trong ba đoạn rất đáng chú ý (9-11), những lời hứa lớn cho Y-sơ-ra-ên cũng được hòa hiệp với những lời hứa cho dân ngoại, và sự ứng nghiệm lời hứa cho Y-sơ-ra-ên được tỏ ra phải chờ đợi Hội Thánh được trọn vẹn và “Đấng Giải cứu đến từ Si-ôn” (11:25-27).

Câu chìa khóa.– Ấy là “sự công bình của Đức Chúa Trời” (1:17; 3:21, 22). Toàn bộ bức thơ, không kể lời tiểu dẫn (1:1-7), chia làm bảy phần: (1) Cả thế gian phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời 1:18-3:20. (2) Sự xưng công bình bởi đức tin nhờ sự công bình của Đức Chúa Trời, là phương thuốc Tin lành để chữa sự phạm tội, 3:21-5:11. (3) Tín đồ bị đóng đinh với Đấng Christ sống bằng sự sống lại của Đấng Christ, và bước đi trong Thánh Linh, là sự chuẩn bị của Tin lành thế cho nguyên tội lưu truyền, 5:12-8:13. (4) Kết quả đầy đủ về các ơn phước của Tin lành, 8:14-39. (5) Khúc xen vào: Tin lành không phá hủy lời hứa của giao ước cho Y-sơ-ra-ên, 9:1-11:36. (6) Đời sống và sự hầu việc của tín đồ, 12:1-15:33. (7) Sự bày tỏ tình yêu thương của tín đồ Đấng Christ, 16:1-27.

Lên đầu trang