Phi-e-rơ, Si-môn Peter, Simon. Simon Pierre.
Tài liệu bài nầy phần nhiều lấy trong bốn sách Tin lành, Công 1:1–15:1-; và trong hai thơ tín của Phi-e-rơ.
I. Tên và nghề nghiệp.– Si-môn (nghĩa là người nghe) vốn là tên của Phi-e-rơ, con của Giô-na (hoặc Giăng) và anh của Anh-rê, là tín đồ của Giăng Báp Tít, như Phi-e-rơ có lẽ cũng vậy. Phi-e-rơ làm nghề đánh cá, là cư dân thành Bết-sai-đa trên biển Ga-li-lê, dầu sau đó sống trong gia đình mình tại Ca-bê-na-um (Mat 4:18; 8:14; 10:2; 16:16, 17; 17:25; Mác 1:16, 29, 30, 36; Lu 5:3, 4, 5, 8, 10; 22:31; 24:34; Giăng 1:40-44).
II Lần đầu lịch sử Tin lành chép đến Phi-e-rơ.– Chép trong Giăng 1:35-42, khi Anh-rê đã nhận ra Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, “trước nhứt gặp anh mình là Si-môn, ” và “dẫn đến cùng Chúa Jêsus” lúc đó Ngài ngó thấy Phi-e-rơ thì phán: “Ngươi sẽ được gọi là Sê-pha, ” là một tên biệt hiệu tiếng Araméen đồng nghĩa với Pétros tiếng Hy-lạp nghĩa là “vầng đá” hay “hòn đá.” Bấy giờ Phi-e-rơ cũng được nghe tiếng kêu gọi thứ nhứt làm môn đồ Chúa Jêsus, dầu giống như các Sứ đồ khác, tiếng kêu gọi đó lập lại hai lần. (Xem Mat 4:19; Mác 1:17). Lu 5:3 là tiếng kêu gọi lập lại lần thứ hai, và Mat 10:2; Mác 3:14, 16; Lu 6:13, 14 về lần thứ ba. Có người giải nghĩa rằng lần thứ haIPhi-e-rơ được chọn làm đồng bạn luôn ở bên Chúa, và lần thứ ba được lựa làm Sứ đồ.
III. Tiểu sử Phi-e-rơ.– Có thể chia làm hai phần: thứ nhứt, từ khi được gọi cho đến khi Đấng Christ thăng thiên; thứ nhì, từ biến động đó đến hết chức vụ của Sứ đồ trên đất.
1. Thời kỳ thứ nhứt cũng có thể chia ra những biến động trước và sau sự Thương khó của Đấng Christ. Phần đầu có độ 10 biến động: bà gia Phi-e-rơ được chữa lành tại Ca-bê-na-um (Mat 8:14…); việc đánh lưới được rất nhiều cá, với kết quả là Phi-e-rơ tự hạ mình và giao phó mọi sự cho Chúa (Lu 5:1-11); được gọi làm chức Sứ đồ và được chuẩn bị về phần thuộc linh (Mat 10:2); lòng yêu mến Chúa của Phi-e-rơ được tỏ ra khi ông thử đi bộ trên mặt nước (Mat 14:28); cũng được tỏ ra khi ông cảm biết thiếu thốn, bèn thưa: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai?” (Giăng 6:68); lời xưng cao thượng về Chúa Jêsus là “Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống, ” và tiếc thay sự quở trách theo sau (Mat 16:13-23); những đặc ân cao quí Phi-e-rơ được chung hưởng với Gia-cơ và Giăng khi chứng kiến con gái Giai-ru sống lại (Mác 5:37); Chúa hóa hình (Mat 17:1-5), và cuối cùng, việc bất thường về tiền nộp thuế ghi chép trong Mat 17:24.
Những biến động bắt đầu với tuần Thương khó dễ nhắc lại hơn, vì phần nhiều chép trong các sách Tin lành và theo một trật tự. Trước hết, có sự rửa chân cho các môn đồ bởi Chúa vào kỳ Lễ Vượt Qua cuối cùng của đời Ngài, và hai điều sai lầm của Phi-e-rơ về nghĩa thuộc linh của công việc đó (Giăng 13:1-10); sự khoe khoang tự thị của Phi-e-rơ về sự bền lòng dâng mình cho Chúa, và Chúa cảnh cáo ông rằng Sa-tan sẽ “sàng xảy ngươi như lúa mì” (Lu 22:31-34); Chúa nhắc lại hai lần nữa trước khi Ngài bị nộp tại vườn Ghết-sê-ma-nê (Mat 26:31-35); Phi-e-rơ được phép vào vườn để thấy cơn đau thương khốn khó nhứt của Cứu Chúa; Ngài truyền cho ông hãy tỉnh thức cầu nguyện, nhưng vì buồn ngủ ông không vâng theo được (Mat 26:36-46); sự can đảm sai lầm lúc Phi-e-rơ chém đứt tai Man-chu là đầy tớ của thầy cả thượng phẩm (Giăng 18:10-12); Phi-e-rơ lìa bỏ Chúa lúc Ngài bị dẫn đi như người tù, ông theo Ngài cách xa xa, được vào dinh thầy cả thượng phẩm, trước mặt những người trong dinh thầy cả thượng phẩm ông đã chối Chúa, lấy lời thề mà chối, nhớ đến lời cảnh cáo của Chúa Jêsus khi Ngài “xây mặt lại ngó Phi-e-rơ, ” ông đã đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Mat 26:56-58; Mác 14:66-72; Lu 22:54-62; Giăng 18:15-27).
Sự tích về việc Phi-e-rơ sa ngã có chép trong cả bốn sách Tin lành, nhưng có người nói rằng: “Không ai thuật lại truyện nầy một cách nặng nề hơn Mác, và nếu như người ta thường tưởng, Phi-e-rơ có soát lại sách Tin lành đó, và Mác đã chép dưới sự chỉ dẫn của người, thì điều ấy lại càng tỏ ra chứng cớ về tánh ngay thẳng và lòng thống hối thành thật của Phi-e-rơ.”
Không thấy chép gì nữa về Phi-e-rơ cho đến sáng ngày Chúa phục sinh, khIPhi-e-rơ nghe tin nầy trước nhứt, thì cùng Giăng chạy lại xem mộ (Giăng 20:1-10); thiên sứ đặc biệt nói đến tên Phi-e-rơ cho mấy người đàn bà (Mác 16:7); và cũng trong ngày đó, Phi-e-rơ thấy Chúa sống trước hết mọi Sứ đồ khác (Lu 24:34; ICôr 15:5). Sau đó, tại bờ biển Ti-bê-ri-át, Phi-e-rơ được dịp tiện ba lần xưng nhận Chúa Jêsus mà mình đã chối ba lần, và một lần nữa được chỉ định hành chức Sứ đồ; sau đó có lời dự ngôn về Phi-e-rơ phải chết cách nào, và có mạng lịnh phải theo Chúa mình (Giăng 21:1-).
2. Thời kỳ thứ hai, từ khi Đấng Christ thăng thiên cho đến lúc Phao-lô hối cải tin Chúa, thì chép về Phi-e-rơ ngắn hơn. Khi Chúa thăng thiên, chắc Phi-e-rơ có chứng kiến, sau đó thì Phi-e-rơ “đứng dậy giữa các anh em” nơi phòng cao tại Giê-ru-sa-lem để bàn luận về sự chọn một người nối chức Giu-đa (Công 1:15-26). Ngày lễ Ngũ tuần, Phi-e-rơ giảng Tin lành bài thứ nhứt (Công 2:1-), sau đó, cùng với Giăng chữa lành người què chân tại Cửa Đẹp của đền thờ, nói cùng dân sự trong Đền thờ, bị bắt, ông binh vực mình trước tòa công luận, rồi trở về “cùng anh em mình” (Công 3:1–4:1-). Phi-e-rơ lại bị bắt lần nữa và bị đánh đòn (Công 5:1-); rồi sau Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem sai Phi-e-rơ đến thông công với các môn đồ tại Sa-ma-ri (Công 8:1-). Trở về Giê-ru-sa-lem (theo Ga 1:18 dường như Phao-lô có đến thăm), sau đó Phi-e-rơ “đi khắp các xứ, ” chữa lành Ê-nê tại Ly-đa, làm phép lạ cho Đô-ca sống lại tại Giốp-bê, việc thấy dị tượng trên mái nhà đã cảm động Phi-e-rơ giảng Tin lành cho viên đội trưởng Cọt-nây tại Sê-sa-rê, và cắt nghĩa việc đó trước mặt “các Sứ đồ và anh em ở xứ Giu-đê” (Công 9:32-41; 11:1-).
Sau ít lâu, có một sự bắt bớ khác nổi lên chống với Hội Thánh. Hê-rốt Ạc-ríp-ba, đã giết Gia-cơ, cũng bắt Phi-e-rơ để xử tử. Song Hội Thánh cầu nguyện cho Phi-e-rơ và Chúa đã làm phép lạ giải cứu Phi-e-rơ (Công 12:1-). Sau một thời gian lánh mặt khỏi công chúng để khỏi bị chú ý, Phi-e-rơ lần nữa đến Giáo Hội nghị họp tại Giê-ru-sa-lem để giúp đỡ giải quyết vấn đề: việc làm có cần cho sự cứu rỗi hay không? Và thêm lời chứng với lời của Phao-lô và Ba-na-ba, đồng ý được xưng công bình chỉ bởi đức tin thôi (Công 15:1-).
Sau, Phi-e-rơ ở An-ti-ốt có thông công với các tín đồ dân ngoại, đến khi có “mấy người Gia-cơ sai đến, ” thì Phi-e-rơ lại “lui đứng riêng ra bởi những kẻ chịu phép cắt bì.” Vì Phi-e-rơ làm bộ như thế, nên Phao-lô “có can ngăn trước mặt Phi-e-rơ, vì là đáng trách lắm (Ga 2:11-14).
Các thư tín có nhắc đến Phi-e-rơ, với những việc Phi-e-rơ du lịch xa gần khắp nơi, dắt vợ theo (ICôr 9:5), và ông có viết hai bức thơ, bức thứ hai viết khIPhi-e-rơ gần qua đời (IIPhi 1:12-15).
Có lời truyền khẩu nóIPhi-e-rơ chịu tử vì đạo tại thành La-mã, chừng vào năm 67 S.C., hưởng thọ độ 75 tuổi. Chúa cũng là Thầy của Phi-e-rơ đã dự ngôn một sự chết ghê sợ cho người (Giăng 21:18, 19), mà người ta tin rằng điều ấy được ứng nghiệm khIPhi-e-rơ bị đóng đinh trong đời hoàng đế Néron. Lời truyền khẩu cũng nói, vì Phi-e-rơ xin cho nên người ta đóng đinh giốc ngược đầu ông xuống, Phi-e-rơ cảm biết mình không xứng đáng giống như Chúa trong sự chết của Ngài.
Có điều đáng chú ý, việc Phi-e-rơ sang thăm thành La-mã chỉ là một lời truyền khẩu chớ không có gì chắc chắn, và một phần cũng là bởi mấy giáo phụ đầu tiên tính lầm Phi-e-rơ đã qua La-mã năm 42 S.C., ngay sau khi được thoát khỏi ngục (so Công 12:17). Schaff nói điều nầy “không thể hiệp với sự thật, vì Kinh Thánh không chép gì;” qua bức thơ Phao-lô gởi cho người La-mã độ vào năm 58 S.C. cũng không nói về công việc trước của Phi-e-rơ tại La-mã; và chính Phao-lô cũng không bao giờ “lập lên trên nền người khác” (Rô 15:20; IICôr 10:15, 16).
IV. Tánh tình.– Tánh tình của Phi-e-rơ bộc lộ rõ ràng, và dễ phân tích; chắc có thể quyết rằng không người nào khác trong lịch sử Kinh Thánh được tả vẽ rõ hơn và mạnh hơn ông. Có người cho rằng Phi-e-rơ đứng đầu trong vòng các Sứ đồ, và thật ra, bất luận dịp nào ông vẫn đứng đầu trong vòng họ. Bao giờ, Phi-e-rơ cũng được kể đến đầu tiên trong mọi danh sách Sứ đồ, và là người phát ngôn chung. Trước khi Chúa bị đóng đinh mặc dầu Phi-e-rơ có những khuyết điểm nhưng ông là người có lòng yêu thương và trung tín với Chúa mình. Ông cũng là một người dạn dĩ, tự tin, can đảm, nhanh nhẹn, ngay thẳng, có nghị lực và mạnh mẽ. Thật ra, chúng ta cũng thấy trong Phi-e-rơ thể hiện một con người có tính tình dễ thay đổi và không bền lòng, có lẽ vì cớ tính khí đặc biệt đó nên có khi dường như ông tỏ ra hấp tấp và khờ dại. Dầu vậy, như có người nói: “Những đức tánh và lầm lỗi của Phi-e-rơ bắt nguồn từ tấm lòng hăng hái, ” và những lầm lỗi đó được ân điển Chúa sửa trị thì sau đã trở nên khiêm nhường và nhu mì toàn mỹ, như tỏ ra trong hai thơ tín Phi-e-rơ.
Mặc dầu luôn được nhắc đến đầu tiên nhưng không phải vì thế mà ta có thể tin rằng Phi-e-rơ có quyền trên các Sứ đồ khác, vì không có chứng cớ như thế. Quyền đó Chúa không bao giờ ban cho Phi-e-rơ, chính Phi-e-rơ chẳng hề nói là có, và những người đồng liêu vớIPhi-e-rơ cũng không hề nhận. Xin xem Mat 23:8-12; Công 15:13, 14; IICôr 12:11; Ga 2:11.
Thật ra, khi Đấng Christ nói đến nghĩa của tên Phi-e-rơ (Mat 16:18), thì phán: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy.” Ngài không có ý dạy rằng Hội Thánh Ngài, sẽ được lập trên Phi-e-rơ, song trên chính Ngài như Phi-e-rơ xưng nhận trong câu 16 cùng đoạn. Trong thơ tín thứ nhứt, Phi-e-rơ cũng có ý làm chứng như thế nữa (IIPhi 2:4-9). Vả lại, khi Đấng Christ phán: “Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi” v.v. (Mat 16:19), thì Ngài không ban cho Phi-e-rơ quyền phép nào mà không ban chung cho tất cả các anh em người, vì các sứ đồ khác cũng nhận lãnh mạng lịnh như vậy (Mat 18:18; Giăng 20:23). Nhiều nhà giải nghĩa Kinh Thánh đã giải thích: Chìa khóa là dấu hiệu của thế lực và quyền phép mà Chúa ủy quyền lại cho Phi-e-rơ mở cửa giảng Tin lành cho dân Y-sơ-ra-ên trong ngày lễ Ngũ tuần (Công 2:38-42), và cho dân ngoại trong nhà Cọt-nây (Công 10:34-46). Song có người khác coi việc ủy quyền nầy cũng là một với mạng lịnh lớn trong (Mat 28:19).
V. Hai thơ tín.– Hai thơ tín của Phi-e-rơ có thể đoán rằng được chép vào cuối đời mình như đã tỏ ra trong thơ thứ hai (1:12-15). Cả hai bức thư đều gởi cho cùng một hạng người, nhứt là cho tín đồ người Do-thái ở rải rác khắp nơi trong các tỉnh xứ Tiểu A-si, mà Phao-lô cùng các đồng bạn trước đã gieo giống Tin lành (IIPhi 1:1, 2; IIPhi 3:1). Thơ thứ nhứt chép tại Ba-by-lôn (IIPhi 5:13), chắc là Ba-by-lôn trứ danh trên bờ sông Ơ-phơ-rát, dầu bấy giờ kinh thành nầy đã bị tiêu diệt, nơi đây chỉ còn có một số ít dân cư ngụ, trong đó có người Do-thái.
1. Thơ thứ nhứt.– Đại ý thơ nầy nói đến niềm hy vọng sống động của tín đồ, và bởi đó có những phận sự đặt trên tín đồ. Trong phần đầu đoạn thứ nhứt cho đến câu 13, thì giải nghĩa sự trông cậy sống đó, và từ câu đó bắt đầu chép những phận sự của người tín đồ, phần đầu nói đến sự trông cậy, sự kính sợ, sự yêu anh em, và sự ngợi khen (1:13-2:10).
Phi-e-rơ gởi thư nầy cho những tín đồ chịu bắt bớ vì sự công bình, cho nên trong thư có nhắc đến hai phận sự: vâng phục kẻ cầm quyền, và làm chứng cho Đấng Christ (2:11-4:6). Phần thứ ba bắt đầu từ 4:7 trở đi, ở đây là những lời khuyên tín đồ về sự tỉnh thức, phải nhờ những ơn đã lãnh nơi Ngài mà khoản đãi khách thuộc linh, nhịn nhục trong sự thử thách, trung tín trong sự hầu việc, và khiêm nhường trong sự giúp đỡ lẫn nhau. Thơ nầy gởi cho các Hội Thánh bởi “Sin-vanh… anh em trung tín, ” và Phi-e-rơ chứng rằng mục đích viết thơ là để khuyên và làm chứng về “ơn thật của Đức Chúa Trời” (5:12).
Thơ thứ nhứt nầy ngay từ đầu đã được công nhận là thật không có sự nghi ngờ gì, song về thơ thứ hai thật ra không được công nhận vào Tân Ước trong thế kỷ thứ II và III. Hội Thánh đầu tiên dùng đến thơ thứ hai là tại A-léc-xan-tri; song sau đó, Hội Thánh chung cũng đồng ý về chứng cớ trong thơ nầy tỏ ra là thật và có Chúa hà hơi vào. Vậy khi cả Tân Ước được công nhận trong thế kỷ thứ IV, thì tiếp nhận thơ thứ hai nầy mà không nghi ngại gì.
2. Thơ thứ hai.– Thơ nầy chép bởi Phi-e-rơ (1:1; 3:1, 2); nếu nghi ngờ sự đó, hoặc vì thơ nầy chậm được công nhận vào Kinh Thánh, hoặc vì cho rằng thể văn trong thơ nầy khác với thể văn Phi-e-rơ trong thơ thứ nhứt, thì sẽ gặp nhiều sự càng khó tin hơn nữa
Mục đích trong hai thơ giống nhau, tức là “tìm cách làm cho nhớ lại để giục lòng lành trong anh em” (3:1). Giống như Phao-lô trong thơ thứ hai gởi cho Ti-mô-thê, Phi-e-rơ thấy trước sự bội đạo của Hội Thánh hữu danh vô thực, sự khác nhau là Phao-lô nói về sự đó trong kỳ cuối cùng khi các tín đồ thường đã trở nên hư xấu (IITi 3:1-5; 4:3, 4), còn Phi-e-rơ thấy căn nguyên sự đó là bởi các giáo sư giả (IIPhi 2:1-3, 15-19). Thơ thứ nhứt Phi-e-rơ viết để khuyên và làm chứng, còn thơ nầy để nhắc nhở họ nên đề phòng và cảnh giác các giáo sư giả. Nói chung, sự nhắc nhở ở đây là hãy giữ cho cẩn thận e sa ngã lìa khỏi ân điển của Chúa (3:17, 18). Lời trong thơ cũng khuyên người tín đồ phải học hỏi thêm để biết rõ Chúa hơn vàtìm hiểu Chúa muốn mình làm gì (1:2-11). Cũng xác quyết các lời tiên tri trong Kinh Thánh là xác thực (1:12-21). Nói về các giáo sư giả xuất hiện, dạy những giáo lý giả trá về Thượng Đế (2:1), họ sẽ thành công theo dự ngôn (2:2), song chắc chắn sẽ bị hình phạt gớm ghê (2:3-22). Tánh cách sự dạy dỗ giả dối của các giáo sư đó, là một trong những điểm rất quan trọng của thơ, và dẫn đến phần trọng tâm của thơ, phần cuối bức thơ nói đến sự tái lâm của Đấng Christ (3:1-)
VI. Thần đạo. Vì thần đạo của Phi-e-rơ, so sánh với thần đạo của Phao-lô và Giăng là hai nhà thần học lớn trong Tân Ước, có vẻ tươi mới và đổi khác, nên việc kê cứu và học hỏi là sự rất ích lợi và phước hạnh.
1. Sự dạy dỗ về Đấng Mê-si.– Thứ nhứt, Phi-e-rơ là duy nhứt trong sự dạy dỗ về Đấng Mê-si, như tỏ rõ trong phần đầu sách Công vụ các sứ đồ. Tại đó, Phi-e-rơ là người đóng vai chính, và phần nhiều chức vụ Phi-e-rơ hạn chế ở Giê-ru-sa-lem và giữa người Do-thái. Dân Do-thái, dầu có giao ước với Đức Giê-hô-va, nhưng đã phạm tội vì chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Mê-si nên bài giảng của Phi-e-rơ trực tiếp nói đến việc đó, và khuyên họ phải ăn năn và đổi ý về Ngài. Những lời hứa trong Cựu Ước về sự lập nước Đấng Mê-si dường như bị bỏ qua (Ês 11:10-12; Giê 23:5-8; Êxê 37:21-28), nên Phi-e-rơ cắt nghĩa lời hứa về sự lập nước của Ngài sẽ ứng nghiệm lúc Đấng Christ tái lâm (Công 2:25-31; 15:14-16). Sự tái lâm đó, trong chính ngôi vị và thân thể Ngài, là để đạt tới mục đích đó, chỉ đợi chờ quốc dân ăn năn (Công 3:19-26).
2. Sự xưng công bình.– Chức vụ riêng của Phi-e-rơ dành cho người chịu cắt bì không có sự tranh cạnh gì với chức vụ của Phao-lô dành cho dân ngoại, như tỏ ra lúc đến điểm thay đổi trong Công 10:1-, là lúc Phi-e-rơ giảng phúc âm cho gia đình Cọt-nây. Cho đến điểm đó, Tin lành đã chỉ giảng cho người Do-thái thôi, song nay về mặt quốc dân thì họ đã “từ chối” rồi, nên đã tới “trật tự thường của Kỷ nguyên đạo Đấng Christ” (Công 13:44-48) là Tin lành được giảng cho dân ngoại. Bởi đó, ta thấy Phi-e-rơ sát cánh với Phao-lô chứng quyết lẽ đạo lớn về sự được xưng công bình chỉ nhờ đức tin, bằng câu nầy: “Chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta (dân Do-thái) được cứu cũng như người ngoại vậy” (Công 15:11). Vả lại, cũng thấy rõ trong IIPhi 1:1, ý Phi-e-rơ về sự xưng công bình, giống như ý Phao-lô, vì Phi-e-rơ nói về đức tin được xưng công bình là nhờ sự công bình của Đức Chúa Trời và Cứu Chúa Jêsus Christ. Theo lối chúng ta hiểu, ấy không phải là sự công bình của bổn thể Ngài, song là sự công bình Ngài ban cho (so Rô 1:16, 17; 3:21-25; IICôr 5:20, 21).
3. Sự cứu chuộc.– Phi-e-rơ nhiều lần ngụ ý đến phương pháp cứu chuộc của Đấng Christ các đặc biệt. Chỉ xét qua thơ thứ nhứt của Phi-e-rơ, thấy mỗi tín đồ được chọn theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là bởi kết quả của sự rảy huyết Đấng Christ (1:1, 2). Sự vâng phục và kính sợ Ngài của tín đồ được cảm hóa bởi của lễ là “Chiên Con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, ” (1:17-20). Song điều rất hay là cách diễn đạt và thượng hạ văn mà những lẽ thật mầu nhiệm nầy được bày tỏ cho các độc giả. Thí dụ, lời khuyên các tôi tớ trong nhà phải lấy lòng kính sợ ma# phục tòng chủ là dịp tiện để giải nghĩa, bày tỏ cách rất vắn tắt sự Đấng Christ chết thay tội, nhưng sự bày tỏ vắn tắt nầy lại bao hàm tất cả những ý về sự hy sinh của Chúa mà có thể tìm trong Tân Ước (2:18-24); nhứt là hai câu chót; cũng so 3:18-22).
4. Đời sau.– Sau công việc cứu chuộc của Đấng Christ, sự dạy dỗ của Phi-e-rơ về đời sống tương lai là đáng chú ý. Tín đồ được “lại sanh… mà có sự trông cậy sống” (IIPhi 1:3); ấy là “cơ nghiệp… để dành trong các từng trời” (1:4), và liên quan với “sự ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển… khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra” (tức tái lâm) (1:7, 13; 4:13; 5:4, 10; IIPhi 1:11, 16; 3:13, v.v.). “Sự trông cậy” hoặc “cơ nghiệp” nầy là chân thật và quí báu đến nỗi sanh ra sự vui mừng dầu ở trong sự “thử thách trăm bề buộc phải buồn bã” (IIPhi 1:6), thúc giục tín hữu sống cách thánh khiết (1:13-16), nhịn nhục trong sự bắt bớ (4:12, 13); trung tín trong sự hầu việc (5:1-4), bền đỗ chống với sự cám dỗ (5:8-10); và tấn tới trong ân điển (IIPhi 1:10; 5:10, 11; IIPhi 3:18). Một sự đặc biệt nữa, Phi-e-rơ vẫn đặt tư tưởng của sự đau khổ hiện tại vào ánh sáng của vinh quang tương lai. Không phải dường như chỉ có phần đau đớn định trong đời nay, và có phần vinh hiển định về sau, và những sự nầy không có quan hệ gì với nhau, song thật ra cả hai sự đau đớn và vinh hiển đều là duyên cớ lẫn cho nhau (so IIPhi 1:7, 11; 4:13; 5:1; IIPhi 3:12, 13). Vì cớ nầy, và cớ khác nữa, thì người ta đặt cho Phi-e-rơ là Sứ đồ của sự trông cậy cũng như Phao-lô là Sứ đồ của đức tin và Giăng là Sứ đồ của sự yêu thương.
5. Kinh Thánh.– Dầu ngắn ngủi, nhưng hai thơ Phi-e-rơ đáng chú ý vì chú trọng về tánh cách và quyền thế của Kinh Thánh. IIPhi 1:10-12 dạy ba điều liên quan giữa Đức Thánh Linh với Kinh Thánh, nghĩa là: Đức Thánh Linh là Tác giả, Đấng Khải thị, và Giáo sư hoặc Giảng sư của Kinh Thánh. Cũng trong đoạn đó (câu 22-25) nói về Kinh Thánh có quyền ban cho sự sống và làm cho tinh sạch, và cũng còn lại đời đời. Đoạn 2:1- mở đầu với lời xưng Kinh Thánh rất cần thiết cho tín đồ được lớn lên về phần thuộc linh. Trong 4:11 tỏ ra Kinh Thánh là lời sấm truyền của chức vụ tín đồ. Phần nhiều thơ thứ hai cũng luận về đề mục đó. Bởi “lời hứa rất quí rất lớn” của Kinh Thánh, thì tín đồ trở nên “người dự phần bản tánh Đức Chúa Trời” (IIPhi 1:4), hầu cho tín đồ được “nhắc lại chẳng thôi, ấy là mục đích của Phi-e-rơ (1:12-15), những thực sự của Kinh Thánh nhờ chứng cớ bởi mắt thấy hiển nhiên (câu 16-18) căn nguyên hoàn toàn là từ Chúa (câu 20, 21), ấy cũng thật về Tân Ước như về Cựu Ước (3:2) và cả những thơ tín của Phao-lô (3:15, 16).
6. Sự bội đạo và phán xét.– Sự nhận biết Kinh Thánh là lời sống của Đức Chúa Trời đó được so sánh với lời cảnh cáo trọng thể chống với các giáo sư bội đạo và sự dạy của họ chép trong IIPhi 2:1- và 3:1-. Thần đạo ở đây luận về sự phán xét “đã nghị định từ lâu nay, ” (2:1-3); Quan xét là Đấng “chẳng tiếc thế gian xưa” (4-7); Ngài “chậm trễ” để tỏ lòng thương xót, nhưng “ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm;” (3:9, 10); “các từng trời sẽ qua đi… đất cùng mọi công trình trên nó sẽ bị đốt cháy cả” (câu 10); bởi đó “anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào” (câu 11).
7. Sự tái lâm của Đấng Christ.– Thần đạo Phi-e-rơ về sự phán xét cũng tỏ ra sự dạy dỗ về Đấng Mê-si. Thí dụ, sự tái lâm của Đấng Christ mà Phi-e-rơ nói trong đoạn chót của thơ thứ hai, không liên quan với sự cất Hội Thánh lên, như Phao-lô luận đến trong ITê 4:13-18, nhưng liên quan với Y-sơ-ra-ên và ngày của Đức Giê-hô-va mà các tiên tri nói đến trong Cựu Ước (Ês 2:12-22; Khải 19:11-21, v.v.).
Trích lược: James M. GRAY.
Tiến sĩ Scofield chú thích về Phi-e-rơ như sau:
Mat 26:71.– So câu 69; Mác 14:69; Lu 22:58; Giăng 18:25. Có người cho rằng có sự khác nhau như các câu trên chép. Xin hãy nhớ: có một đoàn dân xúc động đã nhóm lại, và Phi-e-rơ bị tra hỏi trong hai chỗ: “Với các kẻ canh giữ” (Mat 26:58), tại đó có lời kiện cáo thứ nhứt (câu 69); và “ngoài cửa” có một số đông dân chúng nhóm lại, tại đó “một đầy tớ gái” tra hỏi lần thứ hai, và “những kẻ ở gần đó” tức đoàn dân tra hỏi lần thứ ba (câu 71:73; Giăng 18:25).
Mat 16:19.– Xem bài NƯỚC.
Mat 16:18.– Xem bài HÒN ĐÁ.
Công 2:4.– Xem bài THÁNH LINH, ĐỨC.
Công 10:44.– Câu 44 nầy là một trục (Pivot) quan trọng trong Kinh Thánh. Cho đến bấy giờ Tin lành chỉ giảng cho người Do-thái thôi, và Đức Thánh Linh được ban xuống trên người Do-thái tin Chúa Jêsus bởi các Sứ đồ đặt tay trên người đó. Song bây giờ, trật tự thường của thời đại nay đã đến: Đức Thánh Linh được ban cho ngay, không cần đặt tay hoặc điều kiện nào khác ngoài đức tin đơn sơ trong Chúa Jêsus Christ. So Công 2:4; ICôr 6:19.
Công 2:14.– Đại đề bài giảng Phi-e-rơ trong ngày lễ Ngũ tuần được bày tỏ trong câu 36, tức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si. Không còn sứ mạng nào mà người Do-thái chán ghét hơn, bởi họ đã chối bỏ chứng cớ Ngài là Đấng Mê-si mà đóng đinh Ngài. Bởi đó, Phi-e-rơ không công bố đại đề đó cho đến khi đã giải nghĩa mọi điều người Do-thái có thể phản đối. Đối với người Do-thái, sự khó là lời hứa tiên tri rõ ràng và lập lại về dân Y-sơ-ra-ên sẽ thâu lại trong xứ họ dưới vị Vua theo Giao ước, dường như không ứng nghiệm (xem Ês 11:10-12; Giê 23:5-8; Êxê 37:21-28). Không phải như La-mã giáo trước nhứt dạy và sau có mấy nhà Cải chánh giải nghĩa theo, rằng giao ước và những lời hứa sẽ được ứng nghiệm. Trong Hội Thánh theo một ý tạm gọi là thuộc linh, Phi-e-rơ (câu 25-32) lấy từ Thi 16:1- rằng chính Đa-vít có hiểu biết Đấng Christ chết và sống lại sẽ làm ứng nghiệm giao ước, và ngồi trên ngôi Ngài (Lu 1:32, 33). Đúng như vậy, Gia-cơ (Công 15:14-17), cũng gặp sự khó đó. Xem bài “Nước” (Cựu Ước). Xa 12:8; (Tân Ước), Lu 1:33; ICôr 15:24.
Công 3:20.– Công 2:14.– Lời khuyên ở đây là dành cho cả dân tộc Do-thái, chớ không phải riêng cá nhân một người nào, như trong bài giảng thứ nhứt của Phi-e-rơ (Công 2:38, 39). Trong bài thứ nhứt đó, những kẻ được cảm động trong lòng, thì Phi-e-rơ khuyên tự cứu lấy mình khỏi một dân tộc không xứng đáng; trong bài nầy, Phi-e-rơ nói với toàn thể dân sự, và lời hứa cho quốc dân ăn năn là quốc dân được giải thoát: “Và Chúa sai Đấng Christ” đem lại những điều các đấng tiên tri đã dự ngôn (so Công 2:14). Sự trả lời của các bậc cầm quyền là bắt giam các Sứ đồ, và cấm không cho giảng, vậy ứng nghiệm Lu 19:14.