Phép lạ Miracle. Miracle.
I. Ý nghĩa.– “Phép lạ” là danh từ thường dùng chỉ hiện tượng lạ lùng cùng theo sự khải thị Đức Chúa Trời cho người Do-thái và tín đồ Đấng Christ, nhứt là trong những khi cần thiết, và nhờ vài điều kiện, vẫn còn tiếp trong lịch sử Hội Thánh. Phép lạ đích xác ấy là công việc Đức Chúa Trời (Xuất 7:3; Phục 4:34, 35; Giăng 3:2; 9:32, 33; 10:38; Công 10:38, v.v.); song coi như là việc siêu nhiên, các quỉ cũng có thể làm phép lạ (Mat 24:24); IITê 2:9; Khải 13:14; 16:14, v.v.).
Theo Kinh Thánh, phép lạ là một việc khác thường của Đức Chúa Trời, có khi vượt quá quyền thông thường trong cõi thiên nhiên liên lạc với kết cuộc của sự khải thị mà được làm ra. Được mô tả trong Tân Cựu Ước bằng ba loại danh từ. Loại thứ nhứt tỏ ra tánh cách bất thường, ngoại trừ, và rất lạ của việc làm (nguyên văn Hy-lạp téras, xem Mat 24:24; Công 2:22, 43, v.v.); loại thứ nhì chú trọng về quyền lực tỏ ra trong phép lạ (dunamis, xem Mat 11:21, 23; 13:54; 14:2; IICôr 12:12, v.v.); loại thứ ba chú trọng về ý nghĩa đối với một mục đích, như “dấu lạ” semeion, (xem Giăng 2:11, 23 v.v. và Công 4:16-22; 6:8; Khải 13:14, v.v.).
II. Phép lạ trong Cựu Ước.– Quá nửa phép lạ chép trong Cựu Ước có liên quan với việc giải cứu người Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập vào xứ Ca-na-an. Có nhiều thuyết công kích các phép lạ Môi-se làm, cho là “không có thật, ” nhưng ấy thật sai lầm cả, vì như thế là chối mất những chứng cớ rất quí về bổn tánh Đức Chúa Trời. Mục đích các phép lạ đó cũng đồng một tính cách với các phép lạ trong Tân Ước. Như Môi-se dạy dân sự: “Hãy học hỏi về thời kỳ có trước… nếu bao giờ có xảy ra việc nào lớn dường ấy, hay là có nghe sự chi giống như vậy chăng? Đức Chúa Trời há có cậy lấy sự thử thách, dấu kỳ, điềm lạ, chiến tranh, cánh tay quyền năng giơ thẳng ra, cùng cậy công sự to tát và gớm ghê, để thứ đi chiếm một dân tộc cho mình ở giữa một dân tộc khác như mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm tại xứ Ai-cập dưới mắt mình chăng? Ngươi đã chứng kiến mọi điều đó, để nhìn biết rằng Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời, chớ không ai khác hơn Ngài” (Phục 4:32-35). Đức Chúa Trời của dân Do-thái khi trước và hiện nay, là Đức Chúa Trời tỏ mình ra trong những công việc lạ lùng để giải cứu dân Ngài. Bởi đó, mười điều răn có lời tiểu dẫn như sau: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ai-cập là nhà nô lệ. Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác” (Xuất 20:2, 3). Nếu không có các phép lạ đó thì Đức Chúa Trời của dân Do-thái dường như không có. Bởi phép lạ đó, Đức Chúa Trời tỏ mình ra là Đấng hằng sống, có bổn thể, và ngoài Ngài chẳng có Đức Chúa Trời nào khác là “công bình là Cứu Chúa” (Ês 45:21).
Sau đó trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, có các phép lạ của tiên tri Ê-li và của tiên tri Ê-li-sê, các phép lạ khiến mặt trời ngừng ở Ga-ba-ôn (Giô 10:12-14), bóng mặt trời lui lại mười độ (IICác 20:11), lừa của Ba-la-am nói tiếng người (Dân 22:28), và Giô-na ở trong bụng cá (Giôna 2:1-), tất cả các phép lạ kể trên đều có chung mục đích lớn, và chứng minh rõ hơn cả ý chỉ và quyền phép của Đức Chúa Trời. Những phép lạ đó không phải chỉ là những dấu để làm chứng về đạo, song là công việc của Đấng hằng sống làm bởi các người hầu việc Ngài, hoặc bởi các người đó cộng tác và Ngài được tỏ ra. Cõi thiên nhiên quả thật bày tỏ Đức Chúa Trời, song các phép lạ bày tỏ những công việc mới và quan trọng của Ngài.
Nên chú ý: phép lạ lớn nhứt là lời tiên tri chép trong Kinh Thánh, vì bởi đó tỏ ra số phận người từ buổi ban đầu và dự ngôn về Đấng Christ đã giáng thế và sẽ trở lại. Chúa khác với Phật và Ma-hô-mết vì đến để làm ứng nghiệm những việc mà các tiên tri đã dự ngôn. Nên có chép về Ngài: “Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa… những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh” (Lu 24:27). Ấy cũng tỏ ra bổn thể Đức Chúa Trời vì chứng rằng Ngài biết cuối cùng từ ban đầu, ” và Ngài là Đấng cầm quyền trên đời sống và lịch sử loài người.
III. Phép lạ trong Tân Ước.– 1. Trong bốn sách Tin lành. Vấn đề các phép lạ đã sanh ra cuộc bàn luận trừu tượng, song tốt hơn hết là bắt đầu xem xét những việc có liên quan đến sự thật# gần nhứt chép trong Tân Ước. Từ đầu chí cuối chức vụ Chúa, có nhiều biến động xảy ra ngoài lẽ thông thường của cõi thuộc linh: Ngài sanh bởi một nữ đồng trinh, và các thiên sứ báo trước tin tức ấy cả cho mẹ Ngài cùng người Ma-ri đã hứa gả (Ma-thi-ơ và Lu-ca). Ngài chết trên thập tự như người thường, song khỏi ba ngày Ngài sống lại từ trong mồ mả, sống chung với các môn đồ 40 ngày (Công 1:3), ăn và uống với họ, nhưng thân thể Ngài vượt quá những điều kiện của xác thịt hay chết. Cuối cùng Ngài được cất lên trời, và một đám mây tiếp Ngài lên khuất mắt họ.
Ngoài hai phép lạ lớn về sự giáng sanh và phục sanh, Chúa Jêsus trong chức vụ Ngài còn làm hơn 30 phép lạ. Ví dụ như:
Ngài trừ các quỉ (Mat 8:28; 15:28; 17:18; Mác 1:26) v.v., chữa bịnh bại (Mat 18:13; 9:6; Giăng 5:9), chữa bịnh phung cùi (Mat 8:3; Lu 17:19), chữa bịnh phù thủng (Lu 14:2), chữa đau rét (Mat 8:14, 15), chữa teo tay (Mat 12:13), làm cho người còng lưng được lành (Lu 13:12), người băng huyết được khỏi (Mat 9:22), người câm nói được, người điếc nghe được, người mù được sáng (Mat 9:29, 33; 12:22; 20:34; Mác 7:35; Giăng 9:7), kẻ chết sống lại (Mat 9:25; Lu 7:15; Giăng 11:44), khiến con trai quan thị vệ sống lại (Giăng 4:50), và môn đồ đánh được nhiều cá (Lu 5:6; Giăng 21:6). Ngoài đó ra, lại còn có việc lạ lớn hơn nữa, tỏ quyền phép Ngài cai quản cõi thiên nhiên, như: quở sống gió yên lặng, đi trên mặt biển (Mat 14:26), làm nước hóa rượu (Giăng 2:9), năm chiếc bánh làm no được 5.000 người (Mat 14:19), bảy chiếc bánh làm no 4.000 người (Mat 15:38). Còn hai việc nữa là:lấy bạc ở miệng cá mà đóng thuếù (Mat 17:27), và phán cho cây vả khô đi (Mat 21:19). Phép lạ thường đi đôi với sự dạy dỗ của Chúa, nếu tách ra, phép lạ sẽ mất hết ý nghĩa, như Mat 4:23 chép: “Ngài đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ… giảng Tin lành và chữa lành mọi thứ tật bịnh, ” như Lu 6:17-19 chép: “Đoàn dân rất đông, từ khắp xứ Giu-đê, Giê-ru-sa-lem, Ty-rơ Si-đôn mà đến để nghe Ngài dạy và được chữa lành bịnh… vì từ Ngài có quyền phép ra.” Thấy Chúa làm phép lạ mới tin, theo Ngài đó không phải là điều tốt nhứt (Giăng 4:18). Chúa không làm nhiều phép lạ trong Na-xa-rét, vì người ta không có lòng tin Ngài (Mat 13:58). Khi làm phép lạ, Chúa trước hết hay cầu nguyện để nhờ Đức Chúa Cha giúp (Giăng 11:41, 42). Trong các phép lạ, Ngài không một lần thất bại.
2. Sách Công vụ các sứ đồ. Chúa Jêsus có hứa cho các Sứ đồ và “những kẻ tin” Ngài cũng làm được phép lạ (Mat 10:8; Mác 16:17, 18). Sau thật được ứng nghiệm (Công 2:43; 5:12, 16; 6:8; 8:13), như truyện khiến người què đi được (Công 3:7, 8; 14:9), kẻ đau bại dậy được (9:34), trừ quỉ hay bói khoa (16:18), chữa lành kẻ té chết (20:9, 10), khiến cho vợ chồng A-na-nia chết (5:5, 10), và phạt phù thủy Ê-ly-ma bị mù (13:11). Đến đỗi bóng của Phi-e-rơ (5:15) và khăn áo của Phao-lô (19:2) đều có quyền phép chữa lành và trừ quỉ. Rồi chuyện Phi-e-rơ và Phao-lô ở ngục đều được thoát khỏi (12:8; 16:26); Phao-lô không bị rắn lục làm hại (28:3). Những phép lạ đó đều là năng lực lạ lùng của Đấng Christ bởi Đức Thánh Linh, ban cho những kẻ được Ngài sai đi và khiến họ càng thêm vững lòng tin.
3. Thơ tín. Xét thơ tín Phao-lô thì biết Phao-lô chứng thực hết mọi điều đã thuật trong sách Công vụ các sứ đồ (ICôr 12:10, 28; IICôr 12:12). Vả, Phao-lô cũng tự cho mình có quyền làm phép lạ đó.
IV. Phao-lô trong Hội Thánh.– Không đủ chứng cớ tin rằng sau đời các Sứ đồ không còn có phép lạ nữa. Trong Hội Thánh đầu tiên, có nhiều phép lạ chữa lành, che chở, cứu sống, v.v. cả phần xác lẫn hồn. Ngày nay, trong lịch sử Hội Thánh , quyền phép Đấng Christ hằng sống “hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi” (Hêb 13:8), quyền phép ấy được tỏ ra bằng các phép lạ chép trong Kinh Thánh. Song phải nhớ các phép lạ đó không được Đức Thánh Linh soi dẫn mà chép ra, nên có nhiều truyện hoang đường xen vào. Trong sách Pensées de Pascal có viết: kết luận rằng không có phép lạ thật vì có nhiều phép lạ giả chưa đúng lắm; trái lại, phải nói rằng có nhiều phép lạ thật vì có nhiều phép lạ giả, và những phép lạ giả có chỉ vì có phép lạ thật, cũng như có những tôn giáo giả chỉ vì có một tôn giáo duy nhứt là thật!
Về các phép lạ trong Hội Thánh, nên tự hỏi: 1) Có phải từ Đức Chúa Trời hay từ quỉ dữ? 2) Có người sống đồng thời thấy không? 3) Có phải chỉ nhờ truyền khẩu hay có chứng cớ độc lập? 4) Có phải tên nhân vật, thời gian và nơi xảy ra câu chuyện hoàn toàn đúng không? 5) Có phải chỉ là sự dị đoan không? 6) Có được làm ra giữa vòng kẻ thù nghịch không và dắt đem người ta đến tin Chúa như trong đời Ngài? 7) Không phải nhờ tưởng tượng như quỉ dữ mà Socrate thấy; sự dị tượng của Phi-e-rơ có thể là chiêm bao, song sứ mạng cho Cọt-nây không phải, nên chứng tỏ dị tượng đó thật siêu phàm; 8) Không phải là tạm thử, nhiều lần mới có vài lần được, như chữa lành bởi các di vật thánh, v.v.. 9) Không phải là sự tích thêm nhiều điều quá đáng; 10) Phép lạ xảy ra ngay lập tức, không phải lần lần (Lu 18:43); thật trọn vẹn và còn luôn mãi; 11) Người làm chứng dầu chịu đau đớn hoặc chết cũng cứ nói đến phép lạ đó.
V. Chứng cớ phép lạ trong Kinh Thánh là thật.– Giăng 3:2 quả quyết rằng: nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm phép lạ được (9:30, 33; 15:24; Lu 7:19-22). Đức Thánh Linh tỏ quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời qua những con người rất bình thường trong Hội thánh, chính nhờ vậy mà Hội Thánh có một sự đặc biệt lớn, ấy là các phép lạ làm chứng quyền vô cùng của Đức Chúa Trời, từ đó Hội Thánh được lập nên và được công nhận trong một thế giới rất văn minh. Nhờ các phép lạ, lòng tin cậy của tôi mọi lần lần kéo theo lòng tin cậy của Sê-sa. Còn Ma-hô-mết trong một thế giới suy đồi không thể nhờ phép lạ nào. Khác với Ma-hô-mết giữa vòng bạn hữu, Đấng Christ và các Sứ đồ không dám nhờ các phép lạ làm giữa vòng người Do-thái để công kích người La-mã. Dầu Giăng Báp Tít “lấy tâm thần phép lạ Ê-li, ” là người làm phép lạ lớn trong Cựu Ước, nhưng chẳng hề tự xưng có quyền làm phép lạ. Các tổ phụ Hội Thánh đầu tiên như Justin Martyr, Tertullien và Origène có khi nhờ các phép lạ đó để làm chứng về đạo Đấng Christ; nhưng nói rằng các người ngoại đạo thù nghịch đều công nhận thật đã xảy ra, dầu nói là từ ma thuật và quỉ dữ. Nhiều bản chép của Do-thái-giáo cũng có một ý giống hệt như vậy. Về phép lạ Chúa sống lại (Mat 28:11-15) và người mù được sáng mắt (Giăng 9:1), người Do-thái xui giục người ta làm chứng dối. Trong Hội Thánh đầu tiên, các nhà thân oan binh vực đạo Đấng Christ vì có những phép lạ lớn, xảy ra nhiều, hoàn toàn làm cách tỏ tường và vì liên lạc với các tiên tri và sự cứu chuộc từ A-đam đến Đấng Christ. Những phép lạ Đấng Mê-si có nói dự ngôn trong Ês 35:5, 6 và 42:7, và Giăng Báp Tít cũng trông đợi nữa (Mat 11:2-4). Điều chú ý ở đây là theo Mat 24:24, 29 sẽ có “nhiều Christ giả dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, … dỗ dành chính những người được chọn.” Cũng vậy, trong IITê 2:9; so Công 2:22; Hêb 2:4. Như các thuật sĩ Ai-cập xưa bắt chước Môi-se (IITi 3:1-8), cũng vậy Christ giả sẽ bắt chước việc Ngài. Để biết phép lạ có đến bởi Chúa hay không, thì xem có thuận hiệp với sự khải thị và Lời Ngài, vì Chúa không thể tự phản đối Ngài (Phục 13:1-5; Ga 1:8, 9; Khải 13:11-15; 19:20; ICác 13:11-26).
VI. Phép lạ đối với những luật cõi thiên nhiên.– Người công kích phép lạ Kinh Thánh cho rằng vì các phép lạ đi ngược lại với qui luật của thiên nhiên nên không thể tin là có thật. Tuy nhiên, nếu một người không biết rõ về Đức Chúa Trời và sự hiện diện Ngài, thì cũng sẽ nghi ngờ như vậy. Đấng dựng nên cõi thiên nhiên có quyền thay đổi hoặc sắp đặt mọi vật theo ý của Ngài. Danh từ “luật, ” khi chỉ về những sự vật chất, chỉ bao gồm lại một số hiện tượng thường xảy ra luôn, dường như có một luật khác quản trị. Những “luật” như thế không khác nhau về trật tự, và duyên cớ “luật” đó là do ý muốn Đức Chúa Trời lựa chọn và sanh ra những việc trật tự kia. Cạnh đó, về phần nhiều người, “cõi thiên nhiên” tựa như một cỗ máy lớn đang tự hoạt động, nếu đã khởi động thì nó cứ thế mà chạy mãi. Bởi đó, có người tưởng tượng nếu Đức Chúa Trời thay đổi một phần trong sự chuyển động hoặc thay đổi trật tự cõi thiên nhiên, thì chắc phải sanh ra sự thiệt hại cho những phần khác còn lại. Song nếu Ngài đang điều khiển vũ trụ, vì mục đích đặc biệt, Ngài có thể lựa chọn và thay đổi một phần về sự chuyển động mà các phần còn lại cũng không bị ảnh hưởng. Và dầu chỉ thay đổi một phần, Ngài cũng dễ có thể cho các phần còn lại cứ chuyển động như thường. Vậy, nếu bỗng dưng quả địa cầu ngừng chuyển động trong vòng quĩ đạo theo luật của cõi thiên nhiên thì chắc chắn xảy ra nhiều sự kinh khiếp, nhưng khi ngừng lại bởi phép lạ để đạt đến mục đích đặc biệt riêng của Ngài thôi, thì tự nó không gây ra hậu quả đáng sợ nào. Nên nhớ rằng Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất năng, không việc khó nào Ngài không làm được.
Giáo sư Stokes phát biểu trước Hội đồng khoa học thường niên tại nước Anh như sau: Ta biết rõ, một người dầu hằng ngày làm theo một thói quen, nhưng vì một cớ riêng có thể làm khác đi. Về phần Đức Chúa Trời cũng thế. Nếu coi những luật cõi thiên nhiên như tự hữu và không có nguyên cớ, thì ta không thể nào nhận biết những sự xảy ra trái với luật. Song nếu coi những luật đó như được lập nên bởi ý muốn cao cả của Ngài, thì cũng phải công nhận Đức Chúa Trời có thể thay đổi. Vả lại, để có một sự thay đổi ngoài qui luật thông thường của cõi thiên nhiên, thì cũng không cần phải ngưng hoạt động tất cả. Có thể dùng một luật khác để dẫn đến sự thay đổi đó. Chính vì thế một biến động gọi là phép lạ có thể xảy ra mà không cần phải ngưng một luật thường nào.
Có thể thêm vào lời phát biểu của giáo sư Stokes một điều: nếu thật có những luật và động lực ngoài cõi thiên thiên thường, khi dùng đến, thì tất phải ảnh hưởng đến qui luật chung của thiên nhiên. Thí dụ, những sanh vật dưới mặt nước cứ sống bình thường theo qui luật thiên nhiên, nhưng nếu một người đứng trên bờ sông ném đá xuống nước thì môi trường sống của những sinh vật ấy tất bị ảnh hưởng: chắc chắn mặt nước sẽ tạo những đường trôn ốc khi viên đá rơi xuống nước dù người ném không dự định sẽ làm một “phép lạ”. Ấy là hai thế giới gần nhau nhưng khác hẳn nhau, tức một thế giới trên mặt nước và một dưới nước. Không có sự ngăn cách giữa hai thế giới đó; cả hai thật giao tiếp với nhau, nhưng sự sanh hoạt trong cả hai thật hoàn toàn riêng biệt. Thế giới thuộc linh cũng vậy, thế giới ấy có thể gần chúng ta như không khí gần mặt nước, và các thiên sứ hoặc sứ giả khác vẫn theo ý muốn Chúa, có thể nhờ lời Ngài phán mà xen vào thế giới chúng ta dễ như người kia ném đá xuống nước. Khi ném đá như thế, không cần tạm bỏ hoặc thay đổi luật nào; chỉ như giáo sư Stokes nói về phép lạ tức gia thêm một luật không thường có hoặc không thường thấy. Theo J.S.Mill, một phép lạ không phải là một sự trái với luật nguyên nhân và kết quả, song là một kết quả mới sanh sản bởi một nguyên nhân mới.
Về các phép lạ trong Kinh Thánh cũng có một đặc điểm quan trọng, ấy là nó có thể xảy ra nhờ mạng lịnh hoặc sự cầu nguyện của người làm phép lạ. Ví dụ như vách tường Giê-ri-cô bị đổ, dầu có thể xem như đó là một cơn động đất, nhưng đây là một phép lạ vì đã có dự ngôn của Đức Chúa Trời và nó xảy ra nhờ sự vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên. Cũng thế, các phép lạ Chúa Jêsus trở nên có ý nghĩa là vì xảy ra khi Ngài phán và theo lời Ngài. Nên các môn đồ nói về Ngài rằng: “Người nầy là ai mà gió và biển đều vâng lịnh?” (Mat 8:27).