Pha-ran Paran. Paran (miền có lắm hang).
I. Một đồng vắng ở giữa Si-na-i, hoặc đúng hơn là giữa Hát-sê-rốt và Ca-na-an (Dân 12:16), cách núi Si-na-i mấy ngày đường (Dân 10:12).
Pha-ran ở phía Nam ngoài bờ cõi Do-thái (ISa 25:1-5). Trong Pha-ran, có Ca-đe (Dân 23:26). và dường như cả Ê-lát trên bờ Biển Đỏ (Sáng 14:6). Pha-ran ở phía Đông những đồng vắng Bê-e-sê-ba và Su-rơ (Sáng 21:14, 21; so 25:9, 12-18; 28:9). Pha-ran gồm cả đồng vắng Xin và tiến thẳng vào bên trong, không có giới hạn nhứt định (Dân 13:16 với 20:1). Trong truyện của Ích-ma-ên, Pha-ran dường như hướng về phía cực Đông của đồng vắng phía Bắc là Et-t#h (Sáng 21:21); song trong Dân 34:4, đồng vắng Xin chớ không phải Pha-ran ở giới hạn phía Nam xứ Pha-lê-tin, hoặc của chi phái Giu-đa (Giô 15:3). Vậy, thật có một nơi gọi là Pha-ran chăng? Theo Phục 1:1 chắc phải có. Trong ICác 11:18, ta thấy là một miền có người ở.
Dựa theo Phục 33:2 và Ha 3:3 thì Pha-ran là miền núi, nó nằm ở phía Nam xứ Ca-na-an, và về các bề khác thì có đồng vắng Su-rơ làm giới hạn, dãy núi vòng cánh cung gọi là Jebel et T#h hay núi của sự lưu lạc, và Arabah. Ấy là đồng vắng người Y-sơ-ra-ên đã phải lưu lạc trong vòng 38 năm. Phần lớn cao hơn mặt biển Địa-trung-hải từ 610 đến 762 thước. Pha-ran có lẽ là Wady Feiran, một dòng nước chảy ở giữa núi Si-na-i và Biển Đỏ, song khó hiệp với Kinh Thánh về nơi có đồng vắng đó vì nếu khi đã bỏ Si-na-i mà không đi ngược lại thì không thể nào tới Pha-ran được.
II. “Núi” Pha-ran chỉ nói đến trong hai khúc thi ca (Phục 33:2; Ha 3:3.) Có lẽ ấy là một đỉnh núi trong dãy Si-na-i, ở kề bên dòng Wady Feiran.