Ong

Ong Bee. Abeille.

Là loài côn trùng nhưng lại biết làm mật (Quan 14:8, 18). Xứ Pha-lê-tin có nhiều ong, vì theo bài Môi-se mô tả, thì ấy là Xứ “đượm sữa và mật” (Xuất 3:8; so Sáng 43:11; Êxê 27:17). Ong thường làm tổ trong các hóc đá (Thi 81:16), hoặc trong rừng cây (ISa 14:25), nhứt là trong xứ Giu-đa (Êxê 27:17; so Mat 3:4). Ong ở các xứ phương Đông là xứ khí hậu rất nóng, nên nọc độc nó chích có thể sanh những chứng nguy hiểm.

Tiếng Hê-bơ-rơ gọi ong là Deborah, hình ảnh những con ong bao giờ cũng gợi ý về sự siêng năng, kết quả, và ngọt ngào; bởi đó người ta thường lấy mà đặt tên cho người nữ, như bà vú của Rê-bê-ca (Sáng 35:8, và một nữ quan xét (Quan 4:1-). Phục 1:44 so sánh dân A-mô-rít với một bầy ong giận dữ vây hãm và dạn dĩ đuổi người Y-sơ-ra-ên đi (so Thi 118:12). Ês 7:18 chép: “Đức Giê-hô-va sẽ suýt mà gọi…, những ong ở xứ A-sy-ri”. Đây, ong được ví với đạo binh A-sy-ri mà Đức Chúa Trời dùng để đoán phạt Y-sơ-ra-ên; cũng ngụ ý đến một thói quen “dùng tiếng suýt hay huýt sáo mà gọi ong ra ngoài tổ để làm việc, và đến chiều lại gọi chúng về”. Xa 10:8 chép: “Chúa sẽ suýt gọi mà nhóm hiệp Y-sơ-ra-ên lại vì đã chuộc lại”.

Sam-sôn lấy mật làm câu đố: “Của ăn từ giống ăn mà ra, vật ngọt từ giống mạnh mà ra (Quan 14:14). Ở đây, là hình bóng về một Đấng mạnh hơn “chia mọi của cướp” với các bạn hữu mình, sau khi đã diệt sư tử mạnh mẽ và dữ tợn (Sa-tan), từ sự chết đem lại sự sống thuộc linh, từ sự đau khổ đem lại ngọt ngào (Lu 11:21, 22; Hêb 2:14, 15).

Trong IISa 17:29; Giê 41:8; Êxê 16:13, 19 nói dân cư ở Pha-lê-tin dùng mật để ăn, hay Giăng Báp-tít cũng vậy (Mat 3:4). Ês 7:15, 16 có chép về Em-ma-nu-ên: “Con trẻ đó sẽ ăn mỡ sữa và mật”, vậy biết mật là món ăn thường của con trẻ, và tỏ ra Đấng Em-ma-nu-ên thật là người.

Lên đầu trang