Niên hiệu của Kinh-thánh

Niên hiệu của Kinh-thánh. Chronology of the Bible. Chronologie de la Bible.

Đời thái cổ không có một phương pháp chung tính các niên hiệu, dường như con người thấy không nhất thiết phải có một lối tính chung như hiện đại. Vậy, trong xứ Ba-by-lôn, A-sy-ri, Pha-lê-tin và Ai-cập xưa thường ghi chép niên hiệu trên các công văn theo số năm hoàng đế trị vì. Tiếc thay, lối tính như thế cũng không giống nhau, vì có người thơ ký kể năm lên ngôi là năm thứ nhứt, người khác tính trọn một năm công dân mới là năm thứ nhứt, v.v… Xem sử ký của Josèphe về những con số kể từ năm xuất A-cập đến năm lập Đền thờ thì một lần nói 592, mấy lần khác 612 và so với ICác 6:1 chép là 480 mà Phao-lô dường như lại kể là 574 (Công 13:18-21 với ICác 2:10; 6:1) thì đủ biết thật như thế.

Cách tính kỷ nguyên, như theo niên hiệu ngày nay, mới bắt đầu dùng từ thế kỷ thứ VI Sau Chúa. Xưa, người Hê-bê-rơ tạm thời kể từ năm xuất Ai-cập để tính niên hiệu (Xuất 16:1; Dân 9:1; 10:11; 33:38). Người La-mã kể niên hiệu trên các công văn bằng tên vị quốc trưởng đang trị vì, và sau đó, họ tính theo năm trị vì của hoàng đế. Các sử gia La-mã kể niên hiệu từ năm sáng lập thành La-mã (A.U.C), song mới bắt đầu mấy thế kỷ sau năm đó. Theo Varro năm 753 T.C là năm khởi đầu kỷ nguyên nầy, ai nấy đều công nhận như vậy. Người Hy-lạp lấy Olympiads, tức cứ bốn năm, để tính. Olympiads thứ I bắt đầu 776 T.C.. là năm Coroebus đắc thắng trong diễn trường Olympique. Còn người Si-ri dùng kỷ nguyên Seleudan bắt đầu tháng Octobre 312 T.C..; người Do-thái trong đời họ Macchabée cũng theo cách tính này. Tín đồ Hồi-giáo dùng kỷ nguyên từ năm Hégira 622 S.C.; tức năm Mahomed từ Mecca trốn đi. Người Do-thái lại dùng kỷ nguyên bắt đầu từ buổi sáng thế theo họ định là 3760-61 T.C…. Các xứ theo đạo của Đấng Christ lập kỷ nguyên từ năm Đấng Christ giáng sanh. Đầu thế kỷ thứ VI, thầy tu Dionysius, người La-mã, trong số kê tính ngày lễ Vượt qua từ năm Chúa giáng sanh, song tính sai lầm vì nay biết Chúa sanh 4 T.C.. Dầu vậy, năm Dionysius định tức 754 A.U.C. đã được công nhận là năm bắt đầu kỷ nguyên của Đấng Christ bắt đầu với năm thứ I, và những biến động xảy ra trong năm công dân gồm sự giáng sanh Đấng Christ thì đặt trong năm thứ I đó.

Bài nầy rút ở sách “New Analytical Indexed Bible, 1929”.

Từ khi Tổng giám mục Ussher qua đời đến nay là độ 275 năm. Ông có sửa soạn một biểu kê niên hiệu của Kinh-thánh; sau khi sửa đổi một ít. Giám mục Worcester cho vào Kinh-thánh tiếng Anh (English Authorized Version, 1611, S.C.). Ấy đã được “công nhận”, và nhiều người coi những niên hiệu đó như là một phần của Kinh-thánh. Một thầy tu Pháp, Augustin Calmet (1672-1757), một học giả trứ danh về Kinh-thánh trong thời mình, làm một biểu kê niên hiệu Kinh-thánh khác. Sau đó, có Tiến sĩ William Hales (1778-1821) tra xét biểu kê của Ussher từng số một, rồi sửa soạn một biểu kê niên hiệu mới. Vì tra xét kỹ càng những di tích của xứ Ai-cập, Ba-by-lôn, và A-sy-ri, ngày nay thấy có sự thay đổi quan trọng.

Ai kê cứu sử ký nầy biết rõ không nên quyết định những niên hiệu trước Áp-ra-ham đều là đúng. Ví dụ, xin lấy niên hiệu A-đam là 4004 T.C.; tức thì có đời thái cổ của Ai-cập bày ra trước mặt mình. Nếu lấy đời thái cổ 4000 T.C., tự nhiên sanh câu hỏi có bao nhiêu năm giữa A-đam và đời mới lập Ai-cập. Từ A-đam cho đến Nước lụt là một khoảng 1656 năm, song ấy không cho ta biết niên hiệu của A-đam và của Nước lụt.

Bản nguyên Hê-bê-rơ và bản dịch ra tiếng Hy-lạp là Septante có khác nhau nhiều. Ví dụ, theo bản Hê-bê-rơ, A-đam được 130 tuổi khi sanh con đầu lòng; theo bản Septante thì có 230 tuổi. Từ A-đam cho đến Nước lụt theo bản Hê-bê-rơ có 1656 năm, theo bản Septante, 2262 năm, và theo bản Ngũ kinh Samaritain, 1307 năm. Khi các bảng khác không có bằng cớ rõ ràng thì chắc ai cũng tin bản Hê-bê-rơ là đúng.

Đây là sáu thời kỳ từ A-đam cho đến Đấng Christ, tỏ ra cách tính biểu kê “công nhận” tính một thời gian là 4004 năm.

Lên đầu trang