Ni-ni-ve, Thành

Ni-ni-ve, Thành Nineveh, Nineve. Ninive.

Là Kinh đô của đế quốc A-sy-ri xưa. Dường như tên Ni-ni-ve gồm một phần chỉ vị thần A-sy-ri “Nin”, người ta đoán là thần Hy-lạp là Hercule, cũng thấy trong nhiều tên vua A-sy-ri như Ninus, người sáng lập thành nầy theo lời truyền khẩu Hy-lạp.

I. Lịch sử.– Ni-ni-ve được chép lần thứ nhất trong Cựu Ước có liên quan đến căn nguyên dòng giống loài người tan lạc và di cư. A-su-rơ, cũng gọi bằng Nim-rốt (Sáng 10:11), là người đã mở rộng thành mình từ đồng bằng Si-nê-a hay Ba-by-lôn về phía nam, cho đến A-sy-ri phía Bắc, và lập 4 thành phố, trong số đó nổi tiếng nhất là thành Ni-ni-ve. Vì cớ đó, về sau người Do-thái gọi A-sy-ri là “xứ của Nim-rốt” (so Mi 5:5), và người ta tin rằng trước nhất có một nhóm người từ Ba-by-lôn đến ở. Trong Cựu Ước, nước và dân A-sy-ri liên quan đến người Do-thái từ hồi rất sớm, như trong Dân 24:22, 24 và Thi 83:8. Song sau khi nói đến sự lập Ni-ni-ve trong Sáng thế ký thì không còn nói cho đến sách Giô-na, chừng thế kỷ thứ VIII T.C.. Trong sách Giô-na không nói đến xứ và dân A-sy-ri; vua mà tiên tri được sai đến gọi là “vua Ni-ni-ve”, và những bộ hạ gọi là “dân thành Ni-ni-ve”. A-sy-ri thứ nhứt gọi là một nước trong đời Mê-na-hem, chừng 770 T.C.. Na-hum (645 T.C), nói tiên tri nghịch cùng Ni-ni-ve ; chỉ một lần nghịch cùng vua A-sy-ri (3:18). Trong IICác 19:36; Ês 37:37, thành trước nhứt được phân biệt làm nơi hoàng đế ngự. Sanh-chê-ríp bị giết trong đền của thần mình là Nít-róc thờ phượng. Sô-phô-ni chừng 630 T.C., gồm cả thành và nước làm một (2:13); và đây là lần cuối cùng nói đến Ni-ni-ve là một thành còn tồn tại.

Sự hủy phá Ni-ni-ve chừng vào 606 T.C; thành bị bỏ hoang, các đài kỷ niệm bị tiêu hủy, còn dân cư tan lạc và bị bắt làm phu tù. Ni-ni-ve chẳng bao giờ còn dấy lên lần thứ hai. Những sách sử ký ngoài làm chứng đầy đủ về sự Ni-ni-ve hoàn toàn biến mất. Sử gia Hérodotus nói về Tigre là sông xưa có thành Ni-ni-ve ở trên bờ. Những sử gia của Alexandre, trừ Arrian, không nói đến thành dầu vua chinh phục đó đã đi qua nơi đổ nát đó. Chắc các văn sĩ Hy-lạp và La-mã như Strabo, Ptolémée và Pliny, chỉ góp nhặt sự hiểu biết độc lập về Nê-hê-mi từ những lời truyền khẩu không bằng chứng.

Lịch sử chính trị của Ni-ni-ve là của A-sy-ri. Xem bài A-sy-ri.

II. Chứng cớ khảo cổ.– Trước kia chưa có những cuộc đào bới và tìm tòi, những chỗ hoang tàn mà người ta đoán rằng nơi đó đã che lấp thành Ni-ni-ve thì chỉ là những đống hoặc gò đất hoặc rác. Trái với những tảng gạch lớn xây lên làm dấu nơi thành Ba-by-lôn xưa, nhưng chỗ đó bề ngoài không có dấu hiệu con người đã xây cất, chỉ trừ đây đó có những vết tích một bức tường xấu xí bằng gạch nung dưới mặt trời. Những đống, những gò này rất to và rộng, nhìn xa giống những gò cao thiên nhiên hơn là công việc bởi tay người. Những đống đó rất khác nhau về hình thể, diện tích và bề cao. Có đống giống hình cái nón, cao từ 15 đến 45 thước, đống khác có ngọn bằng phẳng và dốc đâm thẳng xuống, có những khe sâu thành những luống chứa đầy nước mùa đông. Những gò như vậy rất nhiều tại miền đông sông Tigre, mà tại đó ngày xưa là thành Ni-ni-ve, có lẽ một trong những đống đó là di tích của kinh đô A-sy-ri. Chỉ có một sự khó khăn là xác định những nơi đổ nát nào là còn ở trong địa phận thành Ni-ni-ve xưa.

Những di tích chính là:

1. Những đống đối diện Mosul, gồm có gò Kouyunijik và Nebbi Yunus.

2. Những đống gần nơi hai sông Tigre và Zab hiệp lại, gồm hai đống Nimroud và Athur.

3. Khorsabak, cách phía Đông sông Tigre chừng 16 cây số.

4. Shereef Khan, cách phía Bắc Kouyunjik chừng 8 cây số

5. Selamiyah, cách phía Bắc Nimroud chừng 5 cây số.

Khu quan trọng nhứt là những đống đổ nát đối diện Mosul, là nơi có những đống nằm xung quanh giống như một con đê rất rộng, chứng tỏ đây là dấu vết những phần tường còn lại, mặt Tây thì ngắt quãng bởi gò lớn Kouyunjik và Nebbi Yunus. Ở phía Đông nơi đó còn có những phần các đồn lũy, rất nhiều hố và các tường thành. Tường bên trong có hình chữ nhựt không đều nhau, chu vi tổng cộng chừng 12km. Bề cao hiện nay của tường đất đó là từ 12 đến 15m. Nimroud là một khu cũng giống như thế, song thành lũy để phòng thủ thì rất kém so với Kouyunjik. Các tháp canh giữ xưa nay còn chừng 108 cái ở phía Bắc và phương Đông. Diện tích Nimroud chừng 405 mẫu (hectares). Phía Bắc và phía Đông có những hồ để phòng thủ, phía Tây và Nam có tường xây trên bờ sông. Mặt Tây nam có một đống chừng 24 hectares, hình cái nón cao chừng 42m và cao hẳn lên về góc Tây bắc. Ở mặt Đông nam, có khu gồm những đống cao mà người A-rạp gọi theo tên quan tướng của Nim-rốt là Athur (Sáng 10:11).

Du khách thứ nhất là Rich, vào năm 1820, người này từ Bagdad đến các đống gọi là Kouyunjik, và tận mắt nhìn thấy những di tích của Ni-ni-ve xưa. Năm 1843, Botta, lãnh sự Pháp tại Mosul, bắt đầu đào những đống để khảo cổ, tìm được nhiều tượng chạm, nay để trong viện bảo tàng Louvre ở Paris; và năm 1845-50 có Layard khảo cổ cả Kouyunjik và Nimroud cách xa đó chừng 25 cây số về phía Nam.

Gò Nimroud có nhiều di tích những tòa nhà xây cất theo mẫu chung vào các thời gian khác nhau. Và sự xây cất thì giống như các di tích ở Khorsabad, có nhiều nhà quán, phòng và hành lang có những tường với những vách đá hoa trắng khắc chữ, và có cửa thông qua các phòng; tại cửa thường có một đôi tượng bò đực hoặc sư tử đầu người có cánh. Mặt ngoài các dinh thự đó không thể tả vẽ được. Những tòa nhà của người A-sy-ri thường giống nhau về kiểu dáng, cả về cách trang hoàng cũng vậy.

Những nhà đều xây cất trên các gò bởi người ta đắp lên hoặc trên một nền có độ cao thấp khác nhau, thường cao hơn các miền chung quanh từ 9 đến 15 thước, và xây rất chắc chắn bằng những viên gạch nung dưới mặt trời. Nền bằng phẳng nầy có lẽ có những tường đá kê cho khỏi lở, vì còn nhiều mảnh tìm được tại Nimroud, và có những bậc đá rộng hay đường thoai thoải dẫn lên đỉnh. Dầu chỉ có một kiểu mẫu chung về nền dưới đất, chắc những tòa nhà có nhiều tầng lầu cất bằng gỗ hoặc gạch nung dưới mặt trời, mà khi nhà bỏ hoang thì bị hư sập, dần dần lấp những phòng thấp và những nơi đổ nát, che phủ những vách tường khỏi nắng mưa. Vậy, những bảng đá hoa trắng có khi đất và rác lấp đến 6 thước. Chính vì bị vùi sâu như vậy mà những bức chạm nổi còn giữ được cách lạ lùng. Những phần các tòa nhà còn lại chỉ là những phòng, hành lang phần nhiều trông ra các sân lộ thiên. Tường phía trên những lớp đá trắng có trát và họa nhiều hình và nhiều đồ bài trí. Những bức chạm trừ những sư tử hoặc bò đực, đầu người có cánh, còn chạm nổi nữa. Những hình khổng lồ thường dùng để chỉ vua, những quan trong triều và các thần; những bức chạm nhỏ hơn hoặc phủ cả bề mặt, hoặc chia làm hai phần bởi những bảng khắc họa hình những chiến trận, vòng vây, săn bắn, người địch với thú dữ, lễ nghi tôn giáo, v.v… Hết thảy đều ngụ ý đến những biến động chung của quốc gia. Những hình ảnh săn bắn đều tỏ lòng dũng cảm và tài trí riêng của một vua là đầu dân sự, “thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va”. Những bức chạm dường như sơn, phần nhiều còn có màu ở trên. Trang hoàng như vậy, cả trong lẫn ngoài, những lâu đài A-sy-ri tỏ ra vẻ đẹp khác lạ, song không mất sự lớn lao và tốt đẹp mà có lẽ từ cổ chí kim không nhà nào sánh kịp. Những dinh thự lớn như vậy, là nơi chứa những sách của quốc gia, dường như cũng là nơi vua ngự và đền thờ của các thần.

III. Cảnh thành phố.– Có nhiều ý kiến khác nhau để xác định nơi nào thật còn trong phạm vi thành Ni-ni-ve xưa. Theo Sir Rawlinson và những người khác thì nói khu gò đã nói trên là một thành đặc biệt. Mặt khác, người ta đoán rất hợp lý rằng những khu gò đó không phải là thành riêng biệt, song là các thành lũy chỗ vua ngự. Mỗi nơi có lâu đài, đền thờ, vườn và công viên; và hết thảy hiệp lại làm một thành lớn xây cất và mỗi thời kỳ lại thêm lên, gồm có những khu rải rác trên một diện tích rất rộng và thường cách xa nhau. Vậy, Ni-ni-ve có thể sánh với Đa-mách, Ispahan và Delhi (Ấn Độ) ngày nay. Cũng bởi thế, những di tích còn lại hiệp với những bài mô tả Ni-ni-ve xưa. Như Ba-by-lôn, một vách tường tiếp nối nhau xung quanh gồm hết cả thành Ni-ni-ve.

IV. Những lời tiên tri về Ni-ni-ve và những bức tranh tả trong Cựu-ước.Nhiều nhứt là chép trong hai sách Na-hum và Sô-phô-ni vì dầu Ê-sai có dự ngôn về sự đổ nát của đế quốc A-sy-ri (10:1- và 14:1-), song không nói đến kinh đô. Na-hum ngăm đe sự đổ nát hoàn toàn của cả thành phố, vậy nên không còn dấy lên nữa: “Ngài dùng nước lụt hủy diệt chỗ nó”, “Ngài sẽ diệt hết cả, sẽ chẳng có tai nạn dấy lên lần thứ hai” (Na 1:8, 9). “Dân sự ngươi tan lạc các nơi núi, không ai nhóm họp chúng nó lại” (3:18, 19). Có người tin cơn “nước lụt” hủy diệt thành là bởi nước sông Tigre dâng lên quá cao, gây vỡ đê và xảy ra sự tràn ngập nước, người khác cho rằng ấy là một đạo binh lớn và tàn hại. Tuy nhiên, phần đông các dinh thự được khám phá là đã bị lửa hủy diệt, mà không có phần tường nào hoặc của Nimroud hoặc của Kouyunjik tỏ ra đã phá sạch bởi nước sông. Ni-ni-ve giống như một “ao chứa nước” (Na 2:8), và người ta đoán là chỉ về các hố hoặc đập mà miền lân cận thành Ni-ni-ve bị ngập lụt. Thành một phần bị lửa thiêu hủy: “Lửa đã thiêu nuốt những then ngươi”, “Lửa sẽ thiêu ngươi” (Na 3:13, 15). Cửa thành phía Bắc của khu Kouyunjik có tường bao, bị lửa thiêu cả cung điện. Dân cư bị hại thình lình không phòng bị. “Vì chúng nó mê man như say rượu, thì sẽ bị thiêu hủy hết như rơm khô” (Na 1:10). Sử gia Diodorus giải nghĩa rằng cuộc xông hãm cuối cùng xảy đến khi dân đang say rượu. Có lời dự ngôn về dân sự bị bắt làm phu tù đem tới những thành phương xa (Na 3:18). Những đền đài bị phá hủy hết thần tượng: “Ta sẽ trừ tượng chạm và tượng đúc khỏi nhà các thần ngươi” (1:14) và thành bị tàn phá mọi của báu: “Hãy cướp bạc, cướp vàng, vì của báu nó vô ngần, mọi đồ đạc quí nhiều vô số” (2:9). Vì lâu đời nên những dinh thự bị lột mất những hình tượng. Chỉ một vài mảnh những kim khí quí được tìm thấy trong những đống hoang tàn. Ni-ni-ve sau khi bị đổ nát thì “trống không và hủy hoại” (2:10). “Xảy có ai thấy ngươi thì sẽ lánh xa và nói rằng: Ni-ni-ve đã hoang vu” (Na 3:7). Những lời đó tả tình hình hiện nay của thành Ni-ni-ve.

Chỉ có Sô-phô-ni tả vẽ bức tranh bằng văn thơ đầy đủ và linh động nhất về sự đổ nát của Ni-ni-ve, có lẽ tiên tri đã sống và thấy sự suy đồi của Ni-ni-ve (Sô 2:13-15). Những sông ngòi đã làm cho đất phì nhiêu nay đã cạn. Trừ khi đất được xanh tươi bởi mưa thuận, còn ngoài ra thì cảnh thành phố cùng các miền xung quanh trở nên khô khan và bỏ hoang.

Có nhiều lời trong Cựu-ước ngụ ý đến cách ăn mặc, khí giới, chiến trận và phong tục dân thành Ni-ni-ve, cũng như của người Giu-đa, được cắt nghĩa trong các đài kỷ niệm của Ni-ni-ve. Như vậy, “thuẫn của những người mạnh là đỏ, những lính chiến nó mặc áo màu điều” (Na 2:3). Những thuẫn và y phục của các chiến sĩ thường vẽ màu đỏ trên bức chạm. Những lời tiên tri mô tả sự xông hãm thành Ni-ni-ve trong Na 3:1-3 được ứng nghiệm cách đặc biệt.

Những gò đắp dựa vào những tường của một thành bị vây (Ês 37:33; IICác 19:32; Giê 32:24; v.v…). “Máy phá thành” (Êxê 4:2), những thứ khí giới mão trụ, thuẫn, giáo và gươm dùng trong chiến trận khi vây thành, xe và ngựa (Na 3:3) đều thấy trên những bức chạm nổi khác nhau. Cách bài trí bên trong lâu đài A-sy-ri là bởi Ê-xê-chi-ên, một người phu tù làm chứng bởi mắt trông thấy sự rực rỡ của Ni-ni-ve (Êxê 23:14-15); những bức chạm cũng mô tả các vua và các chiến sĩ A-sy-ri như vậy. Những hình mầu nhiệm mà tiên tri thấy trong dị tượng (Êxê 1:1-) hiệp một người, sư tử, bò, phụng hoàng có lẽ được gợi ý bởi những tượng đầu phụng hoàng, và tượng bò và sư tử đầu người, còn cái “vòng khung giải ra trên đầu các vật sống” chắc gợi ý bởi những cánh tròn và quả địa cầu thường vẽ trong các hình chạm nổi.

V. Mỹ thuật: Ngày nay người ta chưa kiếm ra nguồn gốc nền mỹ thuật của nước A-sy-ri. Những người cho là căn nguyên chính thể và văn minh người A-sy-ri là từ Ba-by-lôn đều cho mỹ thuật cũng từ xứ đó mà ra. Một đặc tính của khoa kiến trúc, là những nền bằng phẳng nhân tạo, dùng làm nền xây các tòa lâu đài quốc gia, có thể theo kiểu của dân ngụ ở nơi đất bằng phẳng, như ở đồng bằng Si-nê-a hơn là những xứ gập ghình như tại xứ A-sy-ri. Không nghệ thuật nào của người A-sy-ri được thấy sự tấn bộ. Trên các tượng cũng như trên tranh, nếu có cách so sánh thì cũng thấy nhiều điều đáng chú ý như ở Ai-cập xưa. Những công trình sớm nhất tỏ ra kết quả của một thời kỳ dài có sự mở mang lần lần, xét ra đối với người không thầy dạy thì sự tấn bộ phải trải qua nhiều năm. Những công trình đó phô trương bậc tốt đẹp nhứt mà người A-sy-ri đã đạt tới. Chỉ có một sự thay đổi như trong Ai-cập là: “suy đồi”. Mỹ thuật người A-sy-ri nhứt là nghề kiến trúc, lan rộng các miền lân cận và thường giao thiệp với một dân trình độ thấp hơn. Dường như họ đã qua sông Ơ-phơ-rát nên ít nhiều chịu ảnh hưởng của những xứ đó và các xứ trên bờ Địa-trung-hải.

Những bản khắc chữ A-sy-ri dường như chỉ một thời gian rất sớm, xứ Giu-đê có nhờ người A-sy-ri. Từ những cảnh tả đền thờ và cung điện Sa-lô-môn (ICác 6:1-, 7:1-; IISử 3:1-, 4:1-), dường như có sự giống nhau giữa những đền đài đó với lâu đài tại Ni-ni-ve, không bề ngoài thì chắc cũng bề trong. Những nhà của người Do-thái nhỏ hơn của A-sy-ri. Về mỹ thuật trong đền thờ, có tả cột trụ, biển đồng cùng các khí dụng bằng đồng và đồng bóng láng giống của người A-sy-ri. Ảnh hưởng của người A-sy-ri về phía đông rất lớn đối với Châu Á. Những nghệ thuật giữa người A-sy-ri cùng các dân tộc văn minh sớm hơn thì dùng vào tôn giáo và quốc gia. Những hình đồ sộ tại cửa ra vào có vẻ bí mật tỏ những thuộc tánh của các thần. Tượng Người Bò Đực và Người Sư Tử, người ta đoán là thần “Nin” và thần Nẹt-ganh coi sóc về chiến tranh và săn bắn; những hình đầu phượng hoàng và đầu cá là những hình trang hoàng khí dụng và làm các đồ thêu chỉ về thần Nít-róc và thần Đa-gôn. Các hình chạm nổi hầu hết tả công việc của vua là đầu dân sự trong chiến trận như cự địch thú dữ, lập đền thờ lớn cho các thần tỏ lòng sùng bái. Song không tìm được tượng nào tả đời riêng, trừ hai bức: người nướng bánh và người chăn ngựa. Chưa tìm ra dấu tích nghĩa địa họ, hoặc cách chôn cất người chết.

VI. Chữ viết và tiếng nói.– Trong những nơi đổ nát của Ni-ni-ve, người ta tìm thấy hình các thùng rượu, bàn con… được khắc trên các bảng đá bằng cẩm thạch hoặc trên vách tường, hay được in trên gạch hoặc trên các đống đất sét có 6 hay 8 cạnh khi còn ướt và nung trong lò (so Êxê 4:1). Những chữ dùng có hình đầu mũi tên hoặc gọi là cunéiforme, gọi như vậy vì mỗi chữ là dấu chỉ hình ngũ hành hoặc bằng đầu mũi tên hoặc cái chêm. Có người cho là cách viết này bắt nguồn ở tại Turanian hoặc Si-then tràn qua các tỉnh trong A-sy-ri, Ba-by-lôn và phần lớn đế quốc Ba-tư, từ hồi rất cổ đã có một ít bản viết, hay ít ra cũng có 20 thế kỷ trước Đấng Christ, cho đến thời Alexandre chiến thắng. Những vần chữ cái và số có trên 200 dấu rất rắc rối. Có nhiều chữ phải phân biệt bằng giọng đọc, bằng vần, bằng ý nghĩa, có thể cùng một chữ nhưng cách dùng khác nhau. Dân Ni-ni-ve nói tiếng dòng dõi Sem, liên lạc với tiếng Hê-bê-rơ, tiếng gọi là Canh-đê trong Đa-ni-ên và E-xơ-ra, ấy làm chứng cho Cựu-ước. Những bản khắc của A-sy-ri chép lịch sử của vua xây cất hoặc sửa các đền đài, thuật chiến trận về các cuộc viễn chinh, những đền đài xây cất, và sự cầu các thần A-sy-ri. Những gạch in như thế có giá trị để cho biết các dòng vua. Quan hệ nhất là có liên lạc với lịch sử Kinh-thánh. Trên một đôi tượng bò đồ sộ nay để trong viện bảo tàng nước Anh, có những chữ viết bởi San-chê-ríp và tả chiến trận với Ê-xê-chia. Có một bức chạm nổi tả vẽ sự vây thành và chiếm lấy La-ki (IICác 18:14, 17 ; so 19:8). Có số tên 19 hay 20 vua kế tiếp và giả sử một số lớn các vua, có lẽ để phụ thêm vào lịch sử đã mất của một đế quốc rất hùng cường xưa, và một nước dường như có ảnh hưởng rất lớn trên các nước hậu tiến và mở mang nền văn minh cho nhân loại.

Xem lời chú thích của bác sĩ Scofield về Ni-ni-ve trong bài Na-hum.

Lên đầu trang