Ngày

Ngày Day. Jour.

Ngày dài ngắn tùy theo thời tiết, vì vậy, từ đời thái cổ đã có sự công nhận một ngày công dân (hoặc sự chuyển vần của mặt trời) như là một thời gian làm mẫu mực. Sự khởi đầu một ngày công dân thay đổi trong nhiều nước. Người Ba-by-lôn kể từ lúc mặt trời mọc hôm trước đến lúc mặt trời mọc hôm sau; người Umbrians (miền trung ương Ý-đại-lợi xưa) thì tính từ trưa hôm trước đến trưa hôm sau. Người La-mã, tính từ nửa đêm trước đến nửa đêm sau. Người Hê-bơ-rơ tự nhiên công nhận lối tính sau cùng (Lê 32:23 “từ chiều hôm nay đến chiều mai”, từ Sáng 1:5 “có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhứt”.

Người ta tưởng rằng người Do-thái xưa cũng như người A-rạp ngày nay, từ hồi rất sớm đã chia những ngày thiên nhiên thành từng phần nhỏ. Thật vậy, họ chia làm “buổi chiều, buổi sáng và ban trưa” (Thi 55:17), nhưng muốn cho đúng hơn, thì chia làm sáu phần không đều, mỗi phần đó cũng chia nhỏ hơn nữa, ấy là:

1. Rạng đông.

2. Mặt trời lên.

3. Ngày khởi nóng chừng 9 giờ.

4. Buổi trưa (Sáng 43:16; Phục 28:29).

5. Lúc gió mát mẻ thổi “trước mặt trời lặn” (Sáng 3:8; người Ba-tư còn gọi thế cho đến ngày nay.

6. Chiều tối. Câu “lối chiều” Xuất 16:12; 30:8 là hồi giết chiên con lễ Vượt qua và dâng của lễ buổi chiều (Xuất 12:6; 29:39). Người Sa-ma-ri thì nói thời gian này là lúc ở giữa mặt trời lặn và thật tối (Phục 16:6), còn các thầy Rabbins giải nghĩa là lúc bắt đầu và hết mặt trời lặn.

Trước khi làm phu tù, người Do-thái chia đêm làm ba canh (Thi 63:6; 90:4): canh một, đến nửa đêm (Ca 2:19); canh giữa, đến lúc gà gáy (Các-quan-xét 7:19); và canh sáng, cho đến lúc mặt trời lên (Xuất 14:24). Những canh đó có lẽ hiệp với phận sự những người Lê-vi hầu việc trong Đền thờ. Tuy vậy, dầu theo lời định nghĩa “một canh là một phần ba đêm” người Do-thái nói rằng đêm vẫn có bốn canh (so Nê 9:3); nhưng canh tư kể là một phần của buổi sáng. Trong Tân Ước, có nhiều chỗ nói đến bốn canh, là mượn của người Hy-lạp và La-mã:

1. Từ hoàng hôn đến chín giờ (Mác 11:11; Giăng 20:19).

2. Đến nửa đêm, từ chín giờ đến mười hai giờ (Mác 13:35).

3. Đến ba giờ sáng (Mác 15:35).

4. Đến rạng đông (Giăng 18:28). Chữ “giờ ” thứ nhứt dùng trong Đa 3:6, 15; 5:5. Có lẽ người Do-thái giống người Hy-lạp, học người Ba-by-lôn lối chia ngày làm 12 phần. Trong đời Chúa Jêsus thường thấy lối chia đó (Giăng 11:9).

Tiến sĩ Scofield chú thích về ngày:

1. Ngày, nghĩa theo Kinh Thánh.– (Sáng 1:5) có ba ý:

a. Ngày là phần có sự sáng của ngày theo dương lịch bằng 24 giờ (Sáng 1:5, 14; Giăng 9:4; 11:9).

b. Một ngày để riêng làm việc đặc biệt như “ngày lễ chuộc tội” (Lê 23:27), và “ngày phán xét” (Mat 10:15).

c. Một thời gian, dài hay ngắn, tại đó những ý định kia của Đức Chúa Trời được tỏ ra và thành công, như “ngày Đức Giê-hô-va”, “ngày ân điển”.

Sáng 1:5.– Lối dùng “buổi chiều, buổi mai”, đây có thể hạn chế một “ngày” theo ngày dương lịch; nhưng vì nhiều lần dùng làm thí dụ về những việc đặc biệt trong cõi thiên nhiên, nên có thể quyết định mỗi “ngày” sáng tạo là một thời gian nhứt định bởi khởi đầu và cuối cùng. Xem Xuất 20:11.

2. Ngày Đấng Christ. ICôr 1-8.– “Ngày Đấng Christ” (Phil 1:10; 2:16) hoặc “ngày Chúa Jêsus Christ ” (ICôr 1:8; 5:5; IICôr 1:14; Phil 1:6) hoàn toàn chỉ về phần thưởng và ơn phước của các thánh đồ lúc Ngài tái lâm (IICôr 5:10), cũng như “ngày Đức Giê-hô-va” liên quan với sự phán xét.

3. Ngày Đức Giê-hô-va hoặc ngày Chúa. Ês 10:20.– “Ngày đó” nhiều lần hiệp với “ngày Đức Giê-hô-va” (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21). Ở đây tiên tri đã nói từ cách chung qua cách riêng, từ những sự phán xét trong lịch sử được ứng nghiệm trên A-sy-ri qua đến sự hủy diệt cuối cùng của mọi cường quốc ngoại bang lúc Chúa lấy vinh hiển tái lâm. Xem Khải 16:14; 19:21; Lu 21:24; Khải 16:14; Thi 2:5; Khải 7:14; Ês 13:19.

IITê 2:3.– Ngày Chúa liên quan đến với “người tội ác”. Về trật tự những biến động trong ngày nầy, xem bài Mầu nhiệm, sự.

Sô 1:7.– Như trong các sách tiên tri khác, cuộc xâm lấn hầu đến của Nê-bu-cát-nết-sa được coi như chỉ bóng cách lờ mờ về “ngày Chúa” thật, khi mọi sự phán xét trên đất sẽ chấm dứt và sau đó dân Y-sơ-ra-ên sẽ được lập lại gồm với các dân tộc, hưởng phước trong nước.

Ês 2:12.– Xem từ câu 10 đến 22; 4:1-6 và suốt đến Khải 19:11-21.

Khải 19:19.– Tóm tắt ngày Đức Giê-hô-va (cũng gọi ngày đó hoặc ngày lớn) là khoảng thời gian lâu dài bắt đầu từ khi Đấng Christ lấy vinh quang tái lâm và kết liễu với sự tẩy sạch các từng trời và trái đất bằng lửa, sửa soạn cho trời mới và đất mới (Ês 65:17-19; 66:22; IIPhi 3:13; Khải 21:1). Trật tự của các biến động là:

1. Chúa trở lại trong vinh quang (Mat 24:29, 30).

2. Hủy diệt con thú và đạo binh nó, “các vua thế gian cùng những quân đội mình”, và tiên tri giả đều là cảnh tượng lớn đáng kinh khiếp của Ngài (Khải 19:11-21).

3. Phán xét các dân (Xa 14:1-9; Mat 25:31-46).

4. Ngàn năm bình an, tức thời đại nước (Khải 20:4-6).

5. Sa-tan dấy loạn và cuối cùng nó (Khải 20:7-10).

6. Phục sanh thứ nhì và sự phán xét cuối cùng (Khải 20:11-15); và

7. “Ngày Đức Chúa Trời”, trái đất được tẩy sạch bằng lửa (IIPhi 3:10-13).

Có bảy dấu hiệu trước ngày Chúa:

1. Ê-li được sai đến (Mal 4:5; Khải 11:3-6).

2. Các điềm trong vũ trụ (Giôên 2:1-12; Mat 24:29; Công 2:19, 20; Khải 6:12-17).

3. Sự không hiểu của Hội Thánh bề ngoài (ITê 5:1-3).

4. Sự bội đạo của Hội Thánh bề ngoài thì bấy giờ giống Lao-đi-xê (IITê 2:3).

5. Hội Thánh chân thật được cất lên (ITê 4:17).

6. “Người tội ác” được tỏ ra, là con thú (IITê 2:1-8).

7. Những sự phán xét của sách Khải Huyền (Khải 11:18).

4. Ngày báo thù, Ês 61:2.– Nên chú ý Chúa Jêsus trong nhà hội tại Na-xa-rét, ngừng đọc khúc nầy khi đến hết câu “đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va” (Lu 4:16-21; Ês 61:2). Sự giáng sanh Ngài mở đầu ngày ơn điển là “năm ban ơn của Đức Giê-hô-va”, nhưng không ứng nghiệm “ngày báo thù”. Vì ngày ấy sẽ được ứng nghiệm khi Đấng Mê-si tái lâm (IITê 1:7-10 so Ês 34:8 và 35:4-10). Câu 4 với 11 tỏ ra khi nào xảy ra trong lịch sử: sự báo thù đó đi trước sự thu lại dân Y-sơ-ra-ên, và đồng thời với ngày Chúa (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21; Ês 63:1-6).

5. Ngày, Đa 12:12.– Có ba cuộc gọi là ” ngày” từ “sự gớm ghiếc” (tức là khi con thú phạm thượng tự tôn mình bằng Đức Chúa Trời, câu 11; Mat 24:15;IITê 2:4).

1. Có 1260 ngày cho đến con thú bị hủy diệt (Đa 7:25; 12:7; Khải 13:5; 19:19, 20). Ấy cũng là thời của cơn đại nạn (Đa 12:4).

2. Cũng từ sự gớm ghiếc đó có kỳ 1290 ngày, là gia thêm 30 ngày (Đa 12:11).

3. Lại thêm 45 ngày nữa với lời hứa của câu 12. Không chép rõ việc nào xảy ra trong khoảng 70 ngày đó giữa sự cuối cùng cơn đại nạn và phước lành đầy dẫy của câu 12. Có người gợi ý có lẽ là những lời tiên tri tả vẽ có biến động theo sau trận Ha-ma-ghê-đôn (Khải 16:14; 19:21). Con thú bị hủy diệt, và kỳ các cường quốc ngoại bang bị phá bởi “một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra” đập vỡ hết 1260 ngày, nhưng cảnh tượng đó còn đầy những mảnh của pho tượng mà “gió” phải đùa đi trước kỳ hạnh phước đầy dẫy đến (Đa 2:35).

6. Những ngày sau rốt, Công 2:17.– Phải phân biệt giữa “những ngày sau rốt” khi lời dự ngôn liên quan với Y-sơ-ra-ên, và “những ngày sau rốt” khi lời dự ngôn liên quan với Hội Thánh (ITi 4:1-3; IITi 3:1-8; Hêb 1:1, 2; IIPhi 1:4, 5; IIPhi 3:1-9; IGiăng 2:18, 19; Giu 1:17-19). Cũng phải phân biệt giữa danh từ “những ngày sau rốt” và “ngày sau rốt”, vì danh từ cuối cùng nầy chỉ về hai kỳ phục sinh và sự phán xét cuối cùng (Giăng 6:39, 40, 44, 54; 11:24; 12:48). “Những ngày sau rốt” nói đến thời điểm khi Hội Thánh khởi đầu với sự giáng sanh Đấng Christ (Hêb 1:2), song chỉ đặc biệt về kỳ suy đồi và bội đạo phần cuối cùng thời đại nầy (IITi 3:1; 4:4). “Những ngày sau rốt” quan thiệp với Y-sơ-ra-ên là những ngày khi Y-sơ-ra-ên dấy lên và hưởng phước, là đồng thời với thời đại nước (Ês 2:2-4; Mi 4:1-7). Đó là “sau rốt” chẳng phải về thời đại nầy, song về cả lịch sử của Y-sơ-ra-ên.

Mi 5:1.– “Lời của Đức Giê-hô-va phán cho Mi-chê” (1:1) khi đã mô tả nước tương lai (Mi 4:1-8) và nói đến những sự phu tù tại Ba-by-lôn (Mi 4:9-10) thì cứ diễn ra vào kỳ những ngày cuối cùng mà chỉ về chiến trận lớn (xem bài Ha-ma-ghê-đôn, Khải 16:14; 19:17), là trận có trước sự lập nước Đấng Mê-si (xem bài Nước).

Mi 5:1, 2 là lời xen vào, tại đó “lời của Đức Giê-hô-va phán” trở về từ kỳ có chiến tranh lớn (còn tương lai) đến sự giáng sanh và sự chối bỏ Vua tức Đấng Mê-si — Christ (Mat 27:24, 25, 37). Theo đó, có lời “Ngài sẽ phó chúng nó cho đến lúc đàn bà phải sanh đẻ đã sanh đẻ” (5:3). Về sự “đau đẻ” của Y-sơ-ra-ên có hai phần:

1. Sự đau đẻ sanh ra một “con trai” (Christ) (Khải 12:1-5); và

2. Sự đau đẻ trong những ngày sau rốt, sanh ra một phần sót từ dân tản lạc tin và không tin (5:3; Giê 30:6-14; Mi 4:10). Cả hai phần nầy hiệp một trong Ês 66:1-. Trong 5:7 có “con trai” (Christ) của Khải 12:1-5; và trong câu 8 dân sót lại đã lập hưởng phước trong nước. Ý nghĩa Mi 5:3 là: từ khi chối bỏ Đấng Christ lúc giáng sanh, Giê-hô-va sẽ bỏ Y-sơ-ra-ên cho đến dân sót tin kính sẽ được tỏ ra. Bấy giờ, Ngài sẽ đứng vững và cậy sức mạnh của Đức Giê-hô-va… mà chăn bầy của mình (5:4); Ngài là Đấng binh vực dân Ngài, như trong Mi 4:3, 11-13 và về sau dân sót lại đó sẽ đi truyền đạo cho Y-sơ-ra-ên khắp thế gian (5:7, 8; Xa 8:23).

7. Ngày phán xét, Khải 20:11.– Hai danh từ “sự phán xét” hay “ngày phán xét” theo ý các khúc và thượng hạ văn chỉ về sự phán xét cuối cùng trong Khải 20:11-15.

Mat 10:15; Khải 20:11.– Ngày đoán phạt là một mặt về ngày Đức Giê-hô-va (Ês 2:12; Khải 19:19) khi Ngài đến và hình phạt lần cuối cùng những tội nhân đời đời. Có ba “ngày” như thế gồm lại trong “ngày” Đức Giê-hô-va (Ês 34:1-9; 61:2; Gióp 21:30; Khải 20:11-15, v.v…).

Tóm tắt ngày phán xét. Khải 20:12.– Xem bài phán xét.

Lên đầu trang