Mười Tai vạ

Mười Tai vạ The ten plagues. Les dix plagues.

Khúc sách mô tả về mười tai vạ được chép trong Xuất 3:1–12:1-.

1. Tai vạ huyết.– Khi Môi-se và A-rôn đến yết kiến Pha-ra-ôn, hai người cần làm một dấu lạ. Cây gậy của A-rôn trở thành “con rắn, ” hay đúng hơn “loại bò sát lớn” như cá sấu. Sự biến thành một con vật mà hết thảy hay một số người Ai-cập tôn sùng, là một điều cảnh cáo Pha-ra-ôn đặc biệt. Các thuật sĩ xứ Ai-cập mà Pha-ra-ôn đã triệu đến, dường như cũng làm một phép lạ giống y như thế, song cây gậy của A-rôn nuốt các cây gậy khác (7:3-12). Nếu tách riêng đoạn nầy, dường như tỏ ra các thuật sĩ cũng làm được phép lạ; nhưng nếu so với các đoạn khác chép về sự phản đối của họ trong ba tai vạ thứ nhứt, thì dường như khác hẳn. So sánh với các đoạn khác sẽ làm ta mạnh mẽ kết luận rằng các thuật sĩ chỉ có thể làm trò quỉ thuật mà thôi. Sau khi cảnh cáo Pha-ra-ôn, A-rôn theo lời Môi-se, cầm gậy mà đập nước ở dưới sông Ni-lơ, thì nước sông cùng các rạch, sông, bàu khác đều biến thành huyết, cả đến những đồ dùng để kéo nước từ các nguồn đó; cá cũng chết, và nước sông hôi thúi. Những người Ai-cập uống nước sông chẳng được, nên đào xung quanh sông tìm nước mà uống. Tai vạ nầy đã hạ tôn giáo của người Ai-cập gấp đôi, vì sông Ni-lơ vẫn được coi là thánh, cả mấy thứ cá trong đó cũng vậy, không nói về cá sấu có lẽ đã bị tuyệt diệt (Xuất 7:16-25). Những người chống đối đã giải nghĩa tai vạ nầy chỉ là do sự thay đổi tự nhiên của màu nước sông Ni-lơ, như Biển Đỏ, và trong đời Trung cổ vẫn gọi là mưa và sương của huyết, hai thứ sau nầy sanh ra bởi thứ mốc lan rất mau chóng. Song các thuyết lý đó không giải nghĩa tại sao phép lạ có thể xảy ra, trong mùa mà sông Ni-lơ trong sạch nhứt, cũng không cắt nghĩa tại sao cá chết và nước sông không uống được.

2. Tai vạ: Ếch nhái.– Sau tai vạ thứ nhứt bảy ngày, tất cả sông, rạch, ao, hồ ở xứ Ai-cập sanh sản vô số ếch nhái; chẳng những bao phủ khắp xứ, song cũng bò vào các nhà cửa, cả đến trong các nơi khô ráo nhứt, bát đĩa, và lò cùng nơi nhồi bột để làm bánh. Tai vạ nầy là một sự đoán phạt đặc biệt rất khó chịu cho người Ai-cập vì ếch ngái cũng được kể vào hàng các loài vật thánh (Xuất 8:1-15).

3. Tai vạ: Muỗi.– (hay bọ chét). Roi đập trên đất khô, và chính bụi đất đó dường như trở thành những sâu bọ độc hại, rất nhiều đến nỗi bu đầy trên người và vật, hoặc đúng hơn là “ở trong” họ. Tánh quá sạch sẽ của người Ai-cập với tai vạ nầy càng thêm cho họ sự khốn khổ trên thân thể, bởi đó họ cũng lại bị ô uế về phần tôn giáo nữa. Về các loài sâu không có lý nào mà thay đổi cách dịch chữ đó. Các thuật sĩ đã nhờ phù chú mà bắt chước hai phép lạ trên, song lần nầy chẳng làm được. Họ đập trên đất, như A-rôn làm, và lập lại những lời phù phép, song vô hiệu (Xuất 8:16-19).

4. Tai vạ: Ruồi mòng.– Sau tai vạ muỗi, không khí bị đập, thì cả xứ Ê-díp-tô đầy những sâu bọ có cánh, bu lại nơi các nhà và phá hại xứ, nhưng riêng xứ Gô-sen nơi người Y-sơ-ra-ên đang ở thì được thoát khỏi tai vạ đó. Chữ dịch “ruồi mòng vô số” chắc tỏ ra là những giống côn trùng có cánh ở xứ Ai-cập (scarabaeus sacer), thường thấy đậu ở trên các bức tường lớn xứ đó. Ngoài ra hai thói quen làm phiền và phá hoại, loài đó cũng là một vật được thờ, như vậy, người Ai-cập lại bị đánh lần nữa bằng roi dị đoan của mình (Xuất 8:20-33).

5. Tai vạ: Súc vật bị dịch lệ.– Vì càng ngày càng đến gần người Ai-cập, Đức Chúa Trời giáng một bịnh trên các bầy vật, không những là tài sản, song cũng là thần của họ nữa. Vào đúng lúc Môi-se cảnh cáo Pha-ra-ôn, mọi bầy vật của người Ai-cập sẽ bị trúng dịch mà chết, song của dân Y-sơ-ra-ên chẳng chết một con nào (Xuất 9:1-7).

6. Tai vạ: Ghẻ chốc.– Từ bầy vật, tay của Đức Chúa Trời giáng trên chính người Ai-cập. Môi-se và A-rôn được truyền bảo lấy tro của lò lửa và vãi tro đó lên trên trước mặt Pha-ra-ôn. Tro trở thành “bụi đất nhỏ” suốt cả xứ Ai-cập và sanh nhiều ghẻ chốc cương mủ trên mình người và súc vật (Xuất 9:8-12). Sự nầy thật đã xảy ra. Tai vạ nầy dường là thứ phung đen, là bịnh đáng sợ elphantasis (xem bài phung), sau còn được nhớ rất lâu là “ghẻ chốc của xứ Ai-cập” (Phục 28:27, 35).

7. Tai vạ: Mưa đá.– Truyện về tai vạ thứ bảy chép sau một lời cảnh cáo mà Chúa truyền cho Môi-se bảo cho Pha-ra-ôn về tánh chất nguy hiểm của tai vạ phải xảy đến, nếu lòng vua cứ cứng cỏi. Người và vật bị đánh và các loài cỏ cùng mọi cây đều gãy, chỉ trừ trong xứ Gô-sen. Tai hại gây nên bởi mưa đá còn lớn hơn các tai vạ trước. Hiện nay, mưa đá sa cùng với lửa chạy trên mặt đất hiếm có, song tại xứ Ai-cập tai vạ này đã xảy ra (9:13-34).

8. Tai vạ: Cào cào.– Sự nghiêm trọng của tai vạ nầy có thể hiểu rõ nếu ai đã từng ở Ai-cập. Trong xứ nầy thường có từng đám cào cào bay và đậu phủ trên cây cối, nhà cửa. Như vậy, tai vạ nầy sẽ lớn hơn những lần thường có; vì đám cào cào nầy lan ra trên một diện tích rộng hơn nhiều; không thể tưởng tượng một sự hủy diệt nào đầy trọn hơn bởi cào cào (Xuất 10:1-20).

9. Tai vạ: Tối tăm.– “Có sự tối tăm rất dày trong ba ngày tại xứ Ai-cập”, nhưng “trong chốn dân Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng.” Dường như được minh chứng bởi gió Samoom và gió nóng ở Khamáseen. Gió thứ nhứt là một bão cát xảy ra ở trong sa mạc, ít khi lâu hơn mười lăm, hoặc hai mươi phút, nhưng có khi kéo dài làm tối tăm gây khó cho người và vật. Gió nóng của Khamáseen thường thổi trong ba ngày và đêm và cuốn theo nhiều cát, đến nỗi dường như có màn sương mù vàng. Như vậy, nó giống gió Samoom dầu kém phần mạnh mẽ và công hiệu gây hại cũng ít hơn. Song không biết lần nào gió đó làm cho tối tăm hoàn toàn. Tai vạ nầy dường như là bão gió nghiêm trọng lạ lùng vì hung dữ và kéo dài, vì tới ba ngày không phải là thường, bởi các cơn bão gió chỉ ngắn thôi (Xuất 10:21-29).

10. Tai vạ: Sự chết của con đầu lòng.– Trước khi xảy ra tai vạ thứ mười, Môi-se được sai đến cảnh cáo Pha-ra-ôn: “Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Chừng giữa đêm ta sẽ tuần hành xứ Ai-cập. Hết thảy con trưởng nam trong Ai-cập sẽ chết, từ thái tử của Pha-ra-ôn ngồi trên ngai mình, cho đến con cả của người đòi ở sau cối, và luôn mọi con đầu lòng của súc vật nữa” (Xuất 11:4, 5). Tai vạ nầy thật tỏ ra là phép lạ vì sự nghiêm trọng, giáng trên người và vật, và chỉ giết hại con đầu lòng mà thôi, khiến ta không thể so sánh với một thứ ôn dịch nào khác, dầu là thứ nghiêm trọng nhứt trong lịch sử, hoặc về tai vạ đặc biệt ở Ai-cập, hoặc giống các bịnh thời khí khác. Lịch sử về mười tai vạ tận cùng với sự chết của các con đầu lòng.

Các tai vạ càng ngày càng thêm nghiêm trọng, có lẽ là chìa khóa rất tốt tỏ rõ ý nghĩa. Dường như mười tai vạ đã giáng xuống để cảnh cáo kẻ hà hiếp, và cho con người có dịp nhận biết ý muốn của Đức Chúa Trời, và làm dịp tiện để họ ăn năn trước khi bị hủy hoại. Bài học về đời sống Pha-ra-ôn dạy ta là: có những người dầu bị đoán phạt rất nghiêm nhặt, nhưng chỉ ăn năn tạm thời mà thôi, sau cơn đoán phạt họ lại cứng lòng như cũ.

Lên đầu trang