Montanus

MONTANUS

Montanus là một thanh niên đầy nhiệt huyết, là nhân vật đã sáng lập ra hệ phái gọi là “Montanists”, là những người theo Thanh giáo (Puritans). Montanus đã bắt đầu thu hút sự chú ý của mọi người với vai trò là một nhà Tiên tri vào năm 178 SC ở Phrygia, một vùng phía Tây của Tiểu Á. Có hai nữ tòng giáo là Prisca và Maximilla, chẳng bao lâu sau đó đã gia nhập vào nhóm này. Họ tự xưng là những phát ngôn nhân của Paraclete (một tước hiệu Hy-lạp dùng để chỉ về Chúa Thánh Linh ở sách Phúc Âm Giăng). Họ tự cho mình là những người biết quay về nếp sống đơn thuần của Cơ Đốc giáo nguyên thủy. Họ chủ trương phóng khoáng rằng chức vụ tư tế là của tất các tín hữu chân chính của Chúa Giê-xu chứ không chỉ dành riêng cho hàng giáo phẩm nào đâu. Họ cũng cho rằng ân tứ nói tiên tri (truyền giảng Phúc Âm) là đặc quyền phổ thông của mọi tín hữu không phân biệt nam nữ già trẻ khi họ được đầy dẫy Thánh Linh.

Vào lúc đó, theo họ tuyên truyền, với tư cách là những tiên tri của Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã truyền phán qua họ ở trong Thân vị đầu tiên, những câu ví von như: “Người nam là những chiếc đàn huyền cầm, và Ta lướt trên họ như những phím đàn!”. Những lời họ gọi là “những lời tiên tri mới”. Sứ điệp chính của họ là: “Đã đến thời kỳ cuối cùng rồi, và sự trở lại của Chúa Giê-xu Christ sắp khai mở; vì lý do này các Cơ Đốc nhân cần phải được sửa soạn đầy đủ”.

Phái Montanists đã kêu gọi tất cả các tín đồ Chúa Giê-xu hãy đáp ứng lời hiệu triệu tiến hành chủ nghĩa tiết dục khổ tu; những liên hệ về hôn nhân cưới gả thì phải bị loại bỏ để thể hiện sự ham thích việc làm cho mình trinh khiết, thực hành ăn chay trường thêm lên, và ăn những thức ăn khô, có sẵn. Tức là, để đời sống được khiết bạch – theo họ chủ trương – đều thuộc vào những cộng đồng được Thánh Linh dẫn dắt ở Pepuza và Tymion, ở xứ Phrygia có tên là Cộng đồng “Giê-ru-sa-lem”. Bà Maximilla đã tiên đoán rằng: “Sau tôi không còn có tiên tri nào xuất hiện nữa, đây là thời kỳ cuối cùng rồi!”

Xuyên qua lời công bố của các vị “thánh” này, họ thúc hối các Cơ Đốc nhân hãy nếm hương vị của sự khổ nạn, “bức hại” và “đừng hy vọng chết trên giường êm ái… nhưng hãy quên bỏ mình như những thánh nhân tuận đạo anh dũng”. Theo các sử gia trong phái họ, thì nhóm người Montanists đã “chịu chết vì Danh Chúa một cách vinh quang” tại Gaul và ở Africa (Phi Châu).

Nhân vật thuộc phái Montanists ngoại hạng hơn hết là ông Tertullian của thành phố Carthage trong giai đoạn sau của cuộc đời ông. Tertullian còn tin tưởng rằng các tiên tri “được” Panaclete (Thánh Linh) cảm thúc đã hoàn thiện quy luật của Hội Thánh rồi. Bởi sự từ chối tha tội cho những kẻ phạm tội sau khi chịu lễ Báp-têm, và sự cấm chỉ tái hôn, và những kẻ đã trốn tránh các cuộc khủng bố.

Nhóm Montanists chẳng bao lâu đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, đi đến chỗ tan rã. Tại Á Châu, họ bị các Hội nghị Giám mục – được xem như đầu tiên của Hội Thánh – trục xuất. Lý do nào họ bị đày đọa thì không được sử ghi rõ ràng lắm. Họ bị kể là những kẻ cuồng tín song không phải theo tà giáo hay dị giáo (có một Giám mục La mã rõ ràng đã công nhận ân tứ về Thánh Linh của họ, nhưng sau đó ông ta thay đổi ý kiến). Còn những khải tượng hay sự hiện thấy mà họ có được, về việc nói tiếng lạ hay những cảm giác tôn giáo gây kích động thì rất đáng ngờ. Những lời tuyên bố mà họ cho là những “lời tiên tri được mặc khải” dường như bị đặt dấu hỏi trong thời kỳ Thánh Kinh được kinh điển. Sau cùng những lời tiên tri của bà Maximilla đã không ứng nghiệm.

Phái Montanists cực lực khinh bỉ tính chất “không thuộc linh của Hội Thánh” vì đã khước từ không tiếp nhận vai trò đại diện cho Paraclete (Thánh Linh) của họ. Trong một thời gian ngắn, lòng trung thành với “lời tiên tri mới” đã không tạo được sự hòa hợp ngay trong nội bộ của họ, khi các Giám mục đang tìm kiếm sự hiệp nhất; sự kiên nhẫn của Hội Thánh đã tỏ ra xứng đáng với sự hiệp nhất với điều mà các Sứ đồ hằng mong muốn.

Các nhóm Montanists còn sót lại đến thế kỷ thứ 5 ở Phi Châu và vẫn còn tồn tại ở Phrygia. Hội Thánh bấy giờ đã mất đi sự hăng hái khai trừ họ. Bất chấp sự quá khích và chống đối, các phần tử Montanists cứ đứng vững trên lập trường mình tin rằng Thánh Linh vẫn còn tác động trên tín đồ cũng y như thời Hội Thánh các Sứ đồ đầu tiên; những sự giảng dạy càng mạnh hơn dầu cường độ có giảm, điệp khúc chính cứ được nhắc lại: “Đã đến thời kỳ cuối cùng rồi!” mà họ so sánh là ngày lễ Ngũ tuần của thời đại này, và những phong trào ân tứ đã được thêu dệt có tính cách cường điệu, quá sự thật.

Riêng nhóm Montanists (được gọi là Cataphyrien) trong thế kỷ thứ II SC đặt ra lễ Báp-têm cho những “thi hài” vừa mới qua đời. Chẳng những Tertullian đã viết sách biện minh cho phe này, nhưng theo một tư liệu, chính John Wesley thời cận đại cũng đã tán dương Montanus cùng những lời giáo huấn của ông ta.

Lên đầu trang