Mẹ

Mẹ Mother. Mère.

Trong Cựu Ước, địa vị người nữ khác nhau với địa vị hèn hạ ngày nay ở Đông phương, nhứt là các xứ đó có Hồi giáo. Suốt Kinh Thánh, người nữ bình đẳng với người nam, và có khi giữ chức cai quản (Xuất 15:20; Quan 4:4; IICác 22:14). Người nữ Hê-bơ-rơ chú trọng về sự lưu truyền dòng dõi, nên một người nữ sanh con rất được tôn trọng. Vậy, trong đời các tổ phụ các người mẹ giữ chỗ đứng quan trọng. Trong phép cưới của Rê-be-ca, mẹ nàng dường như cũng có quyền định liệu ngang với cha nàng là La-ban, anh nàng (Sáng 24:28, 50, 53, 55). Gia-cốp “vâng lời cha mẹ” (Sáng 28:7), và mẹ cũng là mưu sĩ chính của con. Luật pháp bắt buộc con phải tôn kính cha mẹ như nhau (Xuất 20:12). Con nào đánh hay rủa sả cha hoặc mẹ sẽ bị tử hình (Xuất 21:15, 17). Con nào không vâng phục cũng vậy (Phục 21:18-21).

Trong Lê 19:3 theo nguyên văn chép con “phải tôn kính mẹ cha”. Tác giả Thi 35:14 tả sự buồn rầu như một con than khóc mẹ mình. Trong suốt cả sách Châm Ngôn dạy bổn phận các con là phải tôn kính, yêu mến và chịu lụy mẹ. Sự yên ủi rất lớn có thể tả vẽ được là mẹ yên ủi con (Ês 66:13).

Trong Tân Ước cũng như trong Cựu Ước. Sự sanh ra của Đấng Christ nâng người mẹ lên địa vị cao nhứt và lập một tôn chỉ cho cả mọi đời. Điều sau hết của Chúa Jêsus trên thập tự là giao phó mẹ Ngài cho “môn đồ Ngài yêu” như là cơ nghiệp riêng của Ngài. Vậy, nhờ Kinh Thánh mà người nữ được đứng trong địa vị cao trọng ngày nay, nhứt là người mẹ. Có khi người kế mẫu cũng coi như mẹ thật (Sáng 37:10), và bà hay người nữ thân thuộc khác cũng được coi như thế (Sáng 3:20; ICác 15:10).

Có khi Kinh Thánh chép quốc gia như là mẹ mà dân sự là con cái (Ês 50:1; Giê 50:12; Ôs 2:4; 4:5). Những thành lớn cũng được coi là mẹ (IISa 20:19; so Ga 4:26), và Gióp 1:21 tả trái đất như thế. Xem bài Ma-ri.

Lên đầu trang