Khôn ngoan, sự Wisdom. Sagesse.
I. Ý nghĩa.– Những điều người Hê-bơ-rơ biết có thể chia làm ba phần: Luật pháp, Tiên tri và Khôn ngoan.
Sự khôn ngoan tiếng Hê-bơ-rơ là Hokhmãh cùng với các tiếng Hê-bơ-rơ khác hơi giống ý nghĩa như vậy chép hơn 300 lần trong Cựu Ước, hơn một nửa số đó thấy trong Gióp, Châm Ngôn và Truyền Đạo. Hokhmãh có nghĩa hơi rộng hơn, vì có thể chỉ về khéo làm việc (Xuất 28:3; 35:25, v.v…), tài võ bị (Ês 10:13), trí của vật nhỏ mọn (Châm 30:24), và cũng mang ý nói về sự khôn ngoan xảo quyệt để đạt mục đích hư hỏng (IISa 13:3), hoặc hung dữ (ICác Vua 2:9). Bởi thế, không có một từ tiếng Việt nào gồm đủ mọi ý kể trên, nhưng có một ý chung thì rõ: “Sự khôn ngoan là lối dùng những phương pháp phải lẽ để đạt tới mục đích” (Smend), hay là “lối dùng mọi sự biết cách phải lẽ”. Sự khôn ngoan đó được bởi sự từng trải của người, và con người khôn ngoan nhất là khi khi trở về già (Gióp 12:12; 15:10; Châm 16:31, trái với Gióp 32:9; Truyền Đạo 4:13). Trong tôn giáo Đấng Christ, người khôn ngoan là người khéo lo về những sự thuộc về Đức Chúa Trời, trái với người ngoại khéo lo về những việc thế gian (Lu 16:8). Người đó khác với tiên tri vì không cần phải được soi dẫn riêng, khác với thầy tế lễ vì không lo về sự thờ phượng trước nhứt, và khác với thầy thông giáo vì không chỉ lo học Lời chép của Chúa. Vậy, theo đúng ý, người khôn ngoan không cần phải là người theo đạo.
II. Cựu Ước.– Trong phần đầu Cựu Ước, sự khôn ngoan phần nhiều không liên quan đến tôn giáo. Trí thức mà không có tôn giáo thì sẽ có kết quả tai hại (Sáng 3:6), và sự khôn ngoan dường như là tánh chất của người ngoại (Ês 10:13; 19:12; 47:10), chỉ đáng quở trách (Ês 5:21; 29:14; Giê 4:22; 9:23; 18:18, v.v…). Có lẽ vì vua Sa-lô-môn muốn có một nền văn minh riêng của mình, nên vua Sa-lô-môn hết sức xin Chúa cho có sự khôn ngoan (ICác Vua 4:29-34). Vì trong thời đó xã hội có rối reng và đạo đức suy đồi, nên sự khôn ngoan trở nên một đặc tính cần thiết của các mưu sĩ khôn khéo trong triều, với lời khuyên vừa hợp đời, vừa hợp đạo (Ês 28:14-22). Vậy, sự khôn ngoan liên quan với tôn giáo thật thì rất ít (Phục 4:6; Giê 8:8)), còn Phục 32:6; Giê 4:22; 8:9 tỏ ra “điều người đời cho là khôn ngoan thật là dại dột”. Cho nên, không cứ mọi tài liệu về sự khôn ngoan trong các đời đó (xem Châm Ngôn) cũng đều phải đợi đến sau khi Y-sơ-ra-ên làm phu tù trở về, lúc đó những lời văn chép về sự khôn ngoan, mới liên quan thật tới tôn giáo.
Văn chép về sự khôn ngoan trong Cựu Ước gồm có Gióp, Châm Ngôn, Truyền Đạo và Thi-thiên (19:1-; 37:1-; 104:1-; 107:1-; 147:1-; 148:1-), và về Apocryphes có sách Sirach và sách Khôn ngoan của Sa-lô-môn với một phần sách Baruch. Có lẽ văn viết về sự khôn ngoan của ngoại quốc cũng dựa trên sự khôn ngoan xứ Ai-cập, Ba-by-lôn, và Ba-tư, nhứt là Hy-lạp.
Song sự khôn ngoan thuộc linh phải được nhận lãnh từ Đức Chúa Trời, vì con người không thể tự mình mà có sự khôn ngoan (Châm 3:5-7; 19:21; 21:30; 28:11). Sự khôn ngoan thật phải có Đức Chúa Trời là nơi trung tâm (Châm 15:33; 19:20), phải bắt đầu từ Chúa; đi đường khôn ngoan thật khó (Châm 2:4; 4:7). Đời sống mỗi người vẫn chuyên chú về sự khôn ngoan và không ngừng học hỏi (Châm 9:9; Truyền Đạo 4:13).
Trong Cựu Ước, tôn chỉ của người khôn ngoan là người thông minh, chăm chỉ và siêng năng (Truyền Đạo 9:10; so Châm 6:6); hay không nói dối, tránh sự bất nghĩa, hay làm ơn (Thi 37:21; 112:5, 9; Gióp 22:7; 31:16-20; Châm 3:27-28; 14:31; 21:13; 22:9; Truyền Đạo 11:1), và coi đời nầy đáng sống (Châm 31:27; Truyền Đạo 2:24). Dầu sự giàu có đời này không có giá trị gì đối với người khôn ngoan (Châm 10:2; 11:28; 23:4-5; 28:11; Truyền Đạo 5:13), nhưng có thể mong được thưởng trong đời nầy (Châm 3:10; 11:25), và cũng mong được sự công bình nữa (Châm 8:21; 11:25; 13-18).
Với người đời, tôn chỉ về sự khôn ngoan thật khác hẳn, họ thường đè nén mình: không tốt quá, không khôn quá, không ác quá cũng không dại quá (Truyền Đạo 7:16-17). Trong gia đình và giữa bạn hữu, phải xem xét mọi việc có lợi riêng cho mình (Châm 25:17). Người đó thận trọng khi bố thí, (Châm 6:1-5; 20:16), vì không thấy mình bị buộc phải yêu mọi người. Vậy thì sự phải trái lẫn lộn với lợi và bất lợi. Họ cũng xem tà dâm là tội lỗi, nhưng người chồng có quyền báo thù không nương tay (Châm 2:17; 6:34-35). Bởi thế, đủ biết tôn chỉ của sự khôn ngoan người đời không cao thượng gì mấy.
Một đặc điểm về các sách khôn ngoan, ấy là tác giả ưa coi sự khôn ngoan như là người (Châm 1:20-33; 8:1-9:6). Như thế không lấy gì làm lạ, vì Phao-lô cũng coi sự yêu thương như người trong ICôr 13:4. Các tác giả chép những chuyện rất tỉ mỉ như “sự khôn ngoan xây cất nhà mình”, “sai các tớ gái mình đi”; và “pha lộn rượu” (Châm 9:1-5). Nhưng đoạn nổi tiếng nhất là Châm 8:22-31, vì ở đó mô tả khôn ngoan có trước khi dựng nên trái đất và loài người, và ở bên Đức Chúa Trời làm Thợ Cái: chắc chỉ về Chúa Jêsus.
III. Tân Ước.– Về một mặt, Chúa Jêsus giống các tác giả văn khôn ngoan Cựu Ước vì Ngài ưa chọn những sự trong cõi thiên nhiên và những cảnh ngộ, so sánh với nhau và phán vắn tắt, bởi thế lời giảng dạy Ngài cảm động biết bao! Trong những lời phán của Ngài, có lẽ Mat 8:28-29 so Nhã 2:8, và Lu 14:8, 10 so Châm 25:6-7 đủ chứng thật như thế. Một mặt nữa, dầu vẫn biết trong tương lai phải chịu thương khó trên thập tự, nhưng Ngài giữ được vẻ vui tươi luôn, chớ không phải như người tu khổ hạnh buồn thảm (Mat 11:19; Lu 7:34). Trái lại, Chúa không chịu theo lối khôn ngoan thế gian mà tự cảm biết, và tự hỏi có lợi riêng cho mình không. Song Chúa phán, hãy cho cách nhưng không như Cha trên trời cho, đừng lo đến mình, đừng tìm phần thưởng, và như trong Lu 6:27-38 có ý răn dạy các tác giả văn khôn ngoan Cựu Ước. Trong đời Chúa, vì nhờ sự khôn ngoan thế gian, người ta bỏ qua sự dạy dỗ Ngài và cứ cố ý theo lời truyền khẩu tôn giáo Do-thái. Sứ mạng Ngài chỉ cốt cho mọi người ước ao được sự công bình. Ấy tức là sự khôn ngoan thật được xưng công bình nhờ các việc làm của nó (Lu 7:35 so Mat 11:19), còn đối với sự khôn ngoan của người sáng dạ thì Chúa Jêsus tạ ơn Đức Chúa Trời đã giấu những sự mầu nhiệm về nước Ngài khỏi những người đó mà tỏ cho “con trẻ” hay (Lu 10:21; Mat 11:25).
Trong các sách Tân Ước, thơ Gia-cơ là một áng văn khôn ngoan của Kinh Thánh vì cũng lấy sự quan sát trong cõi thiên nhiên (1:11; 3:3-6, 11-12; 5:7, v.v…), trong đời sống người ta (2:2-3, 15-16; 4:13, v.v…), hay so sánh, và dùng chữ khôn ngoan (1:5; 3:15-17). Song về phần đạo đức, Gia-cơ sốt sắng hơn các sách khôn ngoan khác, kể cả sách Gióp nữa.
Trái lại vì nhờ sự khải thị Chúa và sự từng trải thuộc linh, nên các thơ Phao-lô thì khác. Vậy, trừ Rô 11:17, Phao-lô không hay nhờ cõi thiên nhiên để dạy dỗ. Chỉ có một đoạn nên chú ý là ICôr 1:1–3:1-. Tại đó có sự khôn ngoan, không phải từ người Do-thái, song từ người Hy-lạp, giấu kín sứ mạng của Đức Chúa Trời, ấy vì sự khôn ngoan đó lấy công việc con người làm giá trị cao quá lẽ. Vì thế, trong ICôr 1:19; 3:19-20, Phao-lô trích lược Ês 29:14; Gióp 5:13; Thi 94:11 để chống trả với sự khôn ngoan ngoại đạo đó. Phao-lô có sự khôn ngoan riêng của mình (ICôr 2:6) để dạy các tín đồ được tấn tới về phần thuộc linh, chớ không phải về phần trí thức, 3:1-3. Để thật có sự khôn ngoan chính thức, thì phải nhờ Đức Thánh Linh dò xét mọi sự cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa (ICôr 2:10-13; 2:14). Hãy nhớ: Đấng Christ “là sự khôn ngoan” cho tín đồ (ICôr 1:30), và trong Ngài “đã giấu mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng” (Cô 2:3).