Khí giới Weapon, arms. Arme.
Đề mục nầy chia làm hai phần:
I. Khí giới để tấn công.
II. Khí giới để phòng vệ.
1. Dường như thứ khí cụ đứng đầu và nhiều nơi dùng nhứt là Chereb, tức là “gươm” là thứ dùng cả về thế phòng thủ và tấn công. Rất ít thấy Kinh Thánh chép về hình thể, kích thước, vật liệu và cách dùng gươm. Theo trong Giô 5:2-3, thì dường như ban đầu gươm làm bằng đá lửa. Sau lưỡi gươm làm bằng sắt (ISa 13:19; Giôên 3:10). Gươm đeo vào thắt lưng bên trái dùng để chém và đâm. Gươm mà Ê-hút dùng (Quan 3:16), có hai lưỡi và một cục ở cuối lưỡi, vì người thuận tay trái nên đeo gươm ở đùi bên phải dưới lớp quần áo. Gươm tra vào một vỏ (ISa 17:51). Rút gươm là dấu hiệu để chiến trận (Êxê 21:9). Binh sĩ là “những kẻ rút gươm”. Ấy là gươm sáng lòe (Na 3:3); gươm dao ức hiếp (Giê 46:16); gươm nuốt (Giê 12:12); gươm uống… đầy những máu (Ês 34:5-6). Gươm của Chúa thi hành sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (Giê 47:6; Êxê 21:9-10).
Trong lời hình bóng của các tiên tri, gươm chỉ về sự chiến tranh và các tai vạ theo sau (Giê 50:35-37; Êxê 21:28). Phao-lô gọi lời của Đức Chúa Trời là gươm của Thánh Linh (Êph 6:17; cũng xem Hêb 4:12). Trong Khải 1:16, Giăng thấy gươm bén hai lưỡi của sự đoán xét ra từ miệng Chúa vinh hiển (so Khải 19:15).
Sau gươm là đến giáo, thấy có ba loại giáo:
Hanith, tức là loại “lao” thứ lớn nhứt. Ấy là khí giới của Gô-li-át (ISa 17:7, 45; IISa 21:19; ISử 20:5), những người to lớn khác cũng dùng (IISa 23:21; ISử 11:23), cùng các chiến sĩ mạnh dạn (IISa 2:23; 23:18; ISử 11:11, 20). Ban đầu, lao chỉ là một thứ gậy gỗ hoặc tên dài, đầu có một lưỡi bằng đồng, sau làm bằng sắt (ISa 17:7), nó được dịch là giáo trong ISa 13:22; 18:11. Giáo của Sau-lơ cắm ở dưới đất làm dấu, đây là nơi ở của vua lúc bấy giờ, như người Bédouins Sheikh ngày nay cắm nơi cửa trại làm dấu chỗ nghỉ (ISa 22:6; 26:7). Na-hum tả đạo binh người A-sy-ri với giáo nhấp nhoáng (Na 3:3). Người nào dùng lao nầy thuộc đạo binh có khí cụ hạng nặng.
2. Romah, tức là javeline, dịch là “giáo” trong Dân 25:7; ICác 18:28. Loại này không khác thứ trên mấy, dường như là một thứ. Trong Giôên 3:10 nói lấy liềm rèn giáo (romah), còn trong Ês 2:4 nói lấy giáo (hanith) làm lưỡi liềm. Trong Giê 46:4 nói đến giáo của người Ai-cập. Người nào dùng thứ giáo nầy cũng thuộc đạo binh dùng chiến cụ hạng nặng.
3. Kidhon, nhẹ hơn hai thứ trên và thuộc loại javeline, người chiến sĩ thường mang trên lưng loại này (ISa 17:6); cũng xem Giô 8:18; Giê 6:23.)
Trong Tân Ước cũng nói đến giáo một lần, tiếng Hy-lạp là logchẽ trong Giăng 19:34, đây có lẽ là loại hanith vậy.
Về khí giới dùng để bắn thì có cung, để dùng khi đi săn, có tên gọi là kesheth (Sáng 21:20; 27:3); ấy cũng là khí giới rất quan trọng trong chiến trận của người Y-sơ-ra-ên. Những người cầm cung hoặc đi chân, hoặc cỡi ngựa là lực lượng đi đầu trong đạo binh của người Phi-li-tin, Ai-cập và A-sy-ri. Tên thì để trong bao (Sáng 27:3; Ês 22:6; 49:2; Thi 127:5). Theo Gióp 6:4, có khi tẩm thuốc độc vào tên, và Thi 120:4 thì có buộc một chất cháy.
Trành là một thứ thừng gấp lại, hoặc một sợi dây da, làm rộng ở giữa để làm một chỗ rỗng hoặc một cái túi đựng đá. Đầu trành thì buộc chắc vào tay. Khi quay mạnh một vòng quá đầu, thì một viên đá bắn ra. Chỉ một thứ đơn sơ nầy đủ khiến Đa-vít giết chết Gô-li-át người Phi-li-tin cao lớn (ISa 17:40). Người chăn chiên thường dùng trành để khiến cho chiên khỏi đi lạc và cũng có thể dùng để giết người như một chiến cụ. Người thạo ném trành trong IICác 3:25 được sung vào đội binh hạng nhẹ như kẻ bắn cung. Người Bên-gia-min giỏi nghề ném trành, họ có thể ném cả hai tay (Quan 20:16). Ấy là thứ khí giới dùng trong đạo binh của người Ba-by-lôn, nên Giê-rê-mi được Chúa dùng phán cùng Giê-ru-sa-lem về tai vạ hầu hết trong Giê 10-18 so ISa 25:29.
Trượng là một cây gậy một đầu to, lồng vào cổ tay bằng một sợi dây để sẵn sàng lúc cần dùng. Cán của trượng nặng, dùng cả lúc phòng vệ lẫn tấn công. Nhờ trượng Đa-vít đã thắng sư tử và gấu khi chúng tha chiên đi (ISa 17:34). Trượng của người chăn chiên dùng để dẫn dắt, an ủi, và để đếm chiên (Thi 23:4; Lê 27:32), cũng là một khí giới để đánh và phạt (Thi 2:9; Ês 10:5, 15).
II. Giáp là một thứ che thân trong chiến trận. Shiryõn, là một loại áo giáp bằng vảy cá (nguyên văn bảng đeo ngực bằng vảy cá), cũng dịch là giáp trong (Nê 4:16). Ấy là thứ Gô-li-át mặc. Vua Ô-xia có sắm sẵn giáp cho đạo binh mình (IISử 26:14). Sau-lơ khoác áo giáp đó khi người muốn Đa-vít ra chống cự với người Phi-li-tin (ISa 17:5, 38). A-háp cũng mặc trong cơn chiến trận tại Ra-mốt Ga-la-át (ICác 22:34).
Mão trụ có hình một mão che sọ. Đời xưa, người cầm đầu như vua và nguyên soái đều đội. Sau-lơ cũng đội mão trụ đồng của mình trên đầu Đa-vít. Đạo binh của Ô-xia cũng có đội mão này (IISử 26:14). Đạo binh của Pha-ra-ôn Nê-cô cũng đội mão trụ (Giê 46:4). Những người làm thuê trong đạo binh Ty-rơ có cả thuẫn và mão trụ (Êxê 27:10). Ban đầu, làm mão người ta làm bằng gỗ, vải gai, dạ nỉ, hoặc cói. Đời Séleucus làm bằng da, sau người Hy-lạp và La-mã làm bằng da với đồng nhứt là trong đời nhà Hê-rốt.
Phao-lô nói đến mão trụ của tín đồ (perikephalaía) trong Êph 6:17; ITê 5:8.
Ủng đồng cũng là khí giới của Gô-li-át (ISa 17:6), làm bằng đồng hoặc da buộc bao quanh chân và trên mắt cá.
Về thuẫn thì có hai thứ:
1. Cinnah, thuẫn lớn, cho đạo binh hạng năng (ISử 12:1-) làm theo hình người, bầu dục hoặc hình một cái cửa.
2. Mãghẽn, thứ nhẹ, dùng khi đánh giáp lá cà, khiên nầy hình tròn cầm nơi tay (Êxê 23:24; 38:4; Thi 35:2). Đi trước Gô-li-át có một người vác thuẫn (ISa 17:7, 41). Khiên để người cầm cung dùng; người Bên-gia-min trong đạo binh của A-sa cầm thuẫn và giương cung (IISử 14:8). Thuẫn làm bằng gỗ hay gỗ miên liễu bọc da. Thuẫn lớn và các khí giới khác của đạo binh Gót dùng để chụm lửa cho Y-sơ-ra-ên 7 năm (Êxê 39:9). Người ta xức dầu cho thuẫn (IISa 1:21; Ês 21:5) để có độ bền về thời tiết, nhưng đây cũng là lễ dâng chiến sĩ và binh khí ra trận. Thời bình, người ta đeo khiên trên vai, để trong một cái bao còn khi chiến tranh thì để trần (Ês 22:6).