Justin Martyr

JUSTIN MARTYR

(?-166 SC)

Justin xuất thân là một triết gia thượng thặng. Ông vốn là một người theo ngoại giáo giống như thân phụ ông. Justin sanh ra ở Flavia, Neapolis, tức Namlus (Italia). Ông đã có đến cư ngụ ở Si-chem, Sa-ma-ri, xứ Palestine. Sau khi ông trở lại với đức tin Cơ Đốc giáo, thì ông đã cung hiến tài năng quý hiếm của mình cho Chúa, và trở thành một nhân vật trứ danh nhất trong số các nhà biện hộ cho Chân lý và Hội Thánh ở thế kỷ thứ II SC. Những chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp ông mà người đời sau biết được, phần lớn là do sách vở mà ông lưu tồn lại.

Đầu đời, ông để nhiều thì giờ chuyên tâm truy tìm và học hỏi chân lý của đời qua các trường phái triết học như: Khắc kỷ, Aristotle, Pythagoras… cách nhiệt cuồng, say mê. Nhưng tất cả chỉ đem lại cho ông sự chán chường, thất vọng và rối loạn óc não thêm. Cuối cùng ông đã khám phá thấy Chân lý đích thực “ở cuối đường hầm”. Một ngày kia, trong khi đang suy niệm một mình trên bờ biển, có lẽ là ở Ê-phê-sô, ông đã tình cờ gặp một lão ông, và cụ này đã phơi bày về tình trạng suy đồi, bại hoại tuyệt đường của những gì mà Justin đang ngã vào đó. Rồi người lạ mặt đó đã chỉ cho Justin các tiên tri Y-sơ-ra-ên đã tuyên báo và làm chứng về Đấng Christ, Mê-si-a (Cứu tinh) của cả nhân loại đã đến. Justin nghe liền bắt lấy cơ hội tốt đó mà đón nhận một nền Đạo lý chắc thật của các Cơ Đốc nhân, nhất là cách thức họ tỏ ra bất khuất, không chịu cúi đầu trước cái chết vì bạo lực để giữ trọn niềm tin của mình. Đây cũng là nguồn cảm hứng cho chủ đề mà về sau đã thấy tái xuất hiện trong các công trình biên chép của ông. Cuối cùng ông đã tìm ra Chân Lý Cứu Rỗi của Đạo Chúa, năm 130 SC.

Tin Chúa rồi, nhận được ân phúc tha tội hoàn toàn, với khả năng và học thức của mình, ông đã được Chúa sử dụng để bênh vực cho Chân Lý và Hội Thánh Ngài. Có thể nói trên lãnh vực này, Justin là người sáng chói nhất thời ông. Ông đến làm Giáo sư dạy một trường ở Ê-phê-sô. Tại đó ông cũng đã được dịp biện bát với Trypho, là một nhà diễn thuyết người Y-sơ-ra-ên khét tiếng thời bấy giờ, năm 135 SC. Rồi ông sang La mã mở một trường dạy Đạo Chúa. Trong đó có Tatian là một môn sinh ưu tú của ông, về sau rất nổi danh.

Justin như vậy, đã quay lại với niềm chân chánh đầy lòng nhiệt thành, nóng cháy. Ông đã đem hết trí não, tâm sức mình vốn tiếp thu được từ các trường phái triết lý trước kia để xác tín rằng, giờ đây ông hoàn toàn thuộc về Đấng Christ. Ông mạnh mẽ công bố cho mọi người biết Cơ Đốc giáo là một Đạo cũng không kém tính cách triết lý nhưng hoàn hảo hơn. Đạo ấy đã được mạc khải bởi Đức Chúa Trời, Đấng mà từ trước con người chỉ biết mơ hồ xuyên qua sự khôn ngoan của thế giới Cổ Đại mà thôi.

Các sách vở của Justin tích chứa những ấn tượng sâu sắc hấp dẫn về nền học vấn của ông, mặc dầu rất hăng say và mãnh liệt, có tính kích thích, khêu gợi những lý luận và óc suy cứu biện luận, nhưng quá xa rời quần chúng, thì giờ đây được tận dụng, thúc đẩy bởi những áp lực để được các Cơ Đốc nhân thấy rõ, họ đã nhờ sức tác động đó mà ngoan cường đứng vào hàng ngũ của những người bị hăm dọa, bách hại.

Như mọi người đều biết, địa hạt sở trường của Justin là biện giáo (biện minh, thân oan) cho Giáo lý và Giáo hội Cơ Đốc. Tập biện minh thứ nhất của ông được đề đạt lên Hoàng Đế Antoninus Pius (138-161 SC) và các dưỡng tử của vua như: Marcus Aurelius và Decius Verus nhằm xóa tan đi những tên nhọn gây ra những tồn tại hiểu lầm về Tín đồ và Đạo Cơ Đốc từ phía nhà cầm quyền và nhân dân đế quốc. Ông cực lực phản bác rằng những lời buộc tội của dân chúng cho rằng những Cơ Đốc hữu là những kẻ vô thần (vì không cúng lạy Hoàng Đế, hình tượng) là mất đạo đức, vô luân – Là hoàn toàn vô căn cứ. Justin biện hộ cho sự tin tưởng và những giáo lý mang tính thực hành theo Cơ Đốc tín lý được phản ánh là một nền luân lý và đạo đức cao cả. Tập biện minh thứ hai dầu ngắn ngủi nhưng đã gây xúc động lớn, được ghi chép để trình lên quốc hội La mã sau khi Marcus Aurelius đã lên ngôi Hoàng đế (161 SC), chủ yếu chống lại những bất công, áp bức mà ngoại giáo và đế quốc đã đè lên đầu lên cổ Cơ Đốc nhân. Nó được viết ra để tóm kết những vụ việc ngăn chặn những án phạt giáng xuống những tín nhân vô tội bất cứ lời buộc tội độc ác nào, khi họ thừa nhận danh Giê-xu. Phần lớn những tác phẩm của Justin ngày nay vẫn còn lưu lại, chúng cung cấp nhiều tài liệu lịch sử rất có giá trị tương hệ đến những sinh hoạt của Hội Thánh vào giữa thế kỷ thứ II SC.

Ba công trình còn tồn tại lâu bền nhất của Justin là “The Dialogue with Trypho”, rõ ràng nó là thiên kỹ thuật về sự gặp gỡ giữa Trypho với ông vào những năm đầu ông ở Ê-phê-sô. Trypho là một nhà tri thức Y-sơ-ra-ên, một kẻ từng cáo giác Cơ Đốc nhân phá bỏ luật pháp Y-sơ-ra-ên và thờ phượng một Người (Giê-xu). Cuộc tranh biện này đã đưa đến việc người ta nhận xét có tính tôn kính và lễ độ trong phong thái của cả đôi bên. Mặc dầu có sự bất đồng rất sâu, thì Justin cũng hãnh diện mà xác minh quyền uy và giá trị của Thánh Kinh mà ông đã được chia sẻ. Vì Thánh Kinh nói về Đấng Christ, mà trong Ngài luật pháp không còn hiệu lực nữa. Những tuyên bố của Justin được xem rất có trọng lượng về phương tiện làm tiêu biểu mà những Cơ Đốc nhân đã dùng để minh xác cho Thánh Kinh.

Theo lời Tatian, đồ đệ thân tín nhất của Justin thì, sau này, vì triết gia Crescena tố cáo Justin và một số đệ tử ông là tín đồ Cơ Đốc, nên người ta bắt ông đánh roi bằng móc sắt. Cũng có nhiều kẻ ghen ghét ông tìm cách hãm hại ông. Tên tay sai nhà vua lúc ấy là Crescena cáo gian ông, nhà nước liền sai bọn lính đến bắt ông cùng 6 môn đệ khác giải về quan trấn thủ. Tên này đã nhai lại cái luận điệu cũ rích của một sắc luật bất công: “Hãy bỏ Giê-xu đi và dâng cúng tế cho tà thần thì sẽ được tha!”. Nhưng Justin vì danh Giê-xu, Đấng mình hết lòng tin thờ và phục vụ trọn đời mà cam chịu khổ hình. Khi thấy đức tin vững như bàn thạch của ông và các kẻ tòng giáo khác không chút nao núng, viên chức nhà nước liền cho xử thi hành y án. Sau khi đánh đòn họ nhừ tử rồi giam những người nhân đức này vào ngục thất; nhưng trên gương mặt các dũng sĩ đức tin này vẫn phát lộ vẻ vui mừng cho rằng mình đã xứng đáng làm môn đệ trung thành của Chúa Giê-xu.

Justin chịu tử vì Đạo tại La mã vào năm 165 (166 SC). Dường như chức vụ của ông bị cắt ngang nửa chừng một cách thình lình và ngắn ngủi vì biến động trào sôi lúc đó. Ông đã trước sau một lòng một dạ giữ chặt niềm tin mình đặt trên cả Thánh Kinh lẫn tín lý mình thừa nhận, cũng như lời lẽ đanh thép sắc bén, lý luận biện bác trong khi đối diện với những kẻ kình chống bằng lời lẽ ngôn từ cũng như hành động dã man của những người ngoại giáo, bạo quyền đế quốc cũng như về phía người dân Y-sơ-ra-ên nặng óc thủ cựu, thành kiến.

Justin là Giáo phụ đầu tiên và danh tiếng bậc nhất đã can đảm không chịu cúi đầu trước cường lực và lấy làm vinh hạnh mà đội mão triều vinh quang của các liệt sĩ thánh tuận Đạo. Điều này cũng rất xứng đáng với biệt danh cao quý mà người đời sau đã phong tặng cho ông: “Justin Martyr” – “Justin – Người tuận Đạo” vậy.

Lên đầu trang