Huss, John

HUSS, JOHN

(1369-1415)

Ngày nay, người dân Chzekoslovakia (Tiệp Khắc cũ) và bất cứ du khách nào đến thủ đô Prague tân kỳ đều phải chiêm ngưỡng bức tượng đài uy nghi nhưng nét mặt hiền từ tại trung tâm của thành phố này, đó là hình ảnh còn lại của Vị Thánh tử đạo John Huss (Jan hus). Tượng đài ấy đã được dựng lên năm 1915 để kỷ niệm 500 năm ngày John Huss đã tuận Đạo cách oai hùng giữa nhóm liệt sĩ Tiệp. Ông là người đã đứng lên hô hào những nhân vật xung quanh ông hãy giải phóng mình và đồng bào ra khỏi Giáo quyền thối nát, hư hoại đương thời. Có thể nói, John Huss là một người đã hoàn toàn thỏa mãn tham vọng được làm một hiệp sĩ của đất nước ông và Giáo hội Cải chánh Tiệp Khắc.

Thật vậy, các sử gia cũng ví sánh ông như một “Washington” của xứ sở Bohemien, là vì chính ông đã có công đem lại cho tiếng nói và chữ viết của nước này những sắc thái độc đáo và phong phú.

Ông đã phiên dịch Thánh Kinh ra tiếng của dân tộc ông và đồng thời đã sáng tác nhiều bài Thánh ca mà cho đến ngày nay vẫn còn được nhiều người ưa thích. Ngày nay Giáo hội Cơ đốc Irères Moravians với hàng triệu tín hữu vẫn tự hào nhìn nhận John Huss là thủy tổ của họ.

Tuy nhiên lịch sử cho rằng “Vị Giăng Báp-tít của thời kỳ Trung cổ” này đã đóng góp phần quan trọng hơn hết của ông vào đời sống thuộc linh của Âu châu. Đó cũng chính là bằng cớ dọn đường cho chức vụ sinh động của hai nhà Đại Cải chánh là John Calvin và Martin Luther 100 năm sau đó.

Thời niên thiếu của John Huss trầm lặng, ít ai biết. John Huss sinh năm 1369, tại làng Hussints bé nhỏ. Là con trai của một bần nông. Thân phụ ông qua đời khi ông còn tấm bé, để lại một người vợ nghèo nàn, vất vả phải nuôi cậu và anh em. John Huss vào học một trường ở gần nhà. Sau ông học luật và Biện chứng pháp, thiên văn. Khi học xong trường này, mẹ John Huss đưa ông về thủ đô Prague.

Lúc đưa con đi vào Đại học, bà mẹ khốn cùng này chẳng có bạc tiền chi hết, bà chỉ mang theo vào trường một con ngỗng và một cái bánh ngọt lớn để tặng ông khoa trưởng. Chẳng may con vật kia vụt bay mất, bà liền quỳ ngay xuống cầu nguyện và phó thác con trai mình cho Đức Chúa Trời phù hộ. Vị khoa trưởng cảm động quá liền ghi tên John Huss vào học, và khuyến khích chàng kiếm việc làm của sinh viên để có tiền ăn học. Bốn năm kế tiếp đó, John Huss đã đi hát trong các Nhà thờ và làm bất cứ việc gì người ta giúp cho để có tiền trang trải việc đèn sách.

John Huss tốt nghiệp Đại học năm 1393, và 7 năm sau (1401) ông thụ phong Linh mục của Giáo hội La mã. Năm 1404, ông được phong làm Viện trưởng trường Thần học mà ông đã từng theo học. Ông cũng trở thành môn đệ và bạn thân của Jonow Mathias tài cao học rộng. Năm 1398, ông được cử làm giáo sư và trãi qua phần lớn sự nghiệp giáo dục của ông ở Đại học Charles ở thủ đô Pra-gue, đồng thời ông cũng làm giảng sư của Giáo đường Bethlehem, gần bên Đại học đó. Theo bước đi của Miliez, ông chuyên khảo học Thánh Kinh Tân Ước bằng Hi văn. Nhờ đó mà ông sớm có một đời sống thuộc linh rất nghiêm trang, đạo đức. Nhà thờ Bethlehem là Nhà thờ dành cho vua chúa và giới quý tộc lúc bấy giờ. Tại đây Phúc Âm tinh tuyền do ông truyền giảng đã lôi kéo rất nhiều thính giả. Nhờ đó mà nhiều tín hữu Cơ đốc đã được giải cứu khỏi tội mê tín dị đoan trong Giáo hội, ông cũng kịch liệt chỉ trích sự thờ lạy hình tượng, tin nhãm vào các phép lạ giả tạo và thực hành những cuộc hành hương để “thêm vào sự cứu rỗi”. Nữ hoàng Sophia II đã ban cho ông vinh dự làm Linh Mục riêng của bà, cùng nhiều bổng lộc ưu đãi khác, nhưng chúng cũng không có sức thay đổi ý chí cương quyết của ông đấu tranh cho Chân lý, mà về sau các nhà chép sử đã đặt cho ông cái biệt danh là “Người đã mồi ngọn lửa thiêng của cuộc Cải chánh”

Sinh tiền, John Huss đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của các phong trào Cải chánh đang manh nha ở lục địa Âu châu và ở nước Anh. John Huss là người có uy tín rất lớn tại nước Tiệp. Sau đó ông đã bị Giáo hội La mã dứt phép thông công vì những tư tưởng tiến bộ của ông và cho về vườn.

John Huss rất kiên trì học hỏi. Điều đó không lạ, vì bạn ông là Jemoe đã được ông khuyến khích đến học tại Đại học nổi tiếng Oxford, nước Anh và cũng ở đây Jemore đã được chính ông John Wycliffe chỉ giáo cho. Khi Jemore trở về Prague năm 1398, có mang theo tài liệu sách vở do Wycliffe biên soạn; đặc biệt là hai tập Tiểu luận Dialogue và Trialogue. Bởi đó mà John Huss cùng Jemore đã rất nôn nả cổ võ cho tư tưởng và đường lối Cải chánh của Wycliffe tại Slovakia. John Huss nói rằng: “Từ trước chúng ta chỉ thấy lớp vỏ của trí thức, bây giờ Wycliffe đã chỉ dạy cái cốt lõi của sự khôn ngoan thuộc linh cho chúng ta”

Bởi hiểu biết sâu nhiệm về Chánh giáo trùng khớp với Thánh Kinh, cho nên John Huss đã can đảm lên án tội lỗi của dân chúng, sự sa đắm trần tục của các phẩm chức Giáo hội. Thế là Hội đồng Giám hiệu trường Chales liền họp lại tẩy chay các lẽ đạo ông giảng, và cũng nghiêm cấm lưu hành sách vở liên quan đến tên Wycliffe nữa. Khi Tổng Giám Mục của Giáo khu có ý kiến, thì John Huss đã mạnh mẽ đáp: “Tôi ước ao sau cùng linh hồn tôi sẽ được về nơi mà Wycliffe đang ở”.

Thời gian sau, nhờ tinh thần ái quốc của hoàng đế Wenceslas mà hàng ngàn giáo sư sinh viên Đức chịu ảnh hưởng của La mã đã bỏ về nước. Bấy giờ John Huss được cử thay thế chức Viện trưởng. Ông lại có thêm hậu cần hùng mạnh để vững tiến trên đường Cải chánh Giáo hội ở nước mình. Giáo hoàng lúc ấy là Alexander V rất cay đắng khi theo dõi sự hoạt động và tư tưởng của ông lúc này được loan truyền rộng rãi, bèn tuyệt giao với ông.

Thấy làn sóng bài xích John Huss ngày một lên cao, sợ nguy cho tánh mạng ông, nên vua Wenceslas liền khuyên John Huss hãy đi lánh nạn một thời gian. Khi đã có thì giờ yên tĩnh rộng rãi, ông đã ra sức biên soạn một quyển sách rất nổi tiếng là: “Tổng luận về Hội Thánh”. Trong đó ông luận giải rõ ràng niềm tin của mình dựa trên Thánh Kinh đại thể:

* Hội Thánh là duy nhất và Toàn vẹn mà Chúa Giê-xu là Đầu.

* Nếu Giáo hoàng là đầu thì chỉ gây thiệt hại cho Hội Thánh, vì dầu là người nào đi nữa cũng là bất toàn.

* Ai không lấy đức tin đơn thuần mà tin nhận Chúa Giê-xu thì chẳng được nhập vào Thân thể mầu nhiệm là Hội Thánh thật của Ngài.

* Thánh Kinh là tiếng nói có uy lực hơn hết và tối hậu, hơn cả giáo lệnh, sắc chỉ nào của Giáo hội đưa ra.

Tại Giáo Hội Nghị Constance năm 1415, khi đã rõ niềm tin sắt đá và lời giảng dạy Thánh Kinh bốc lửa Thần của ông, thì toàn cả đại biểu tham dự Hội nghị bấy giờ liền biểu quyết lên án tử hình ông bằng cách thiêu sống. Khi ra pháp trường ông tỏ thái độ hiên ngang, bất khuất rất đáng kính nể, khâm phục. Trước hết ông sấp mình xuống đất cầu nguyện: “Hỡi Cứu Chúa Giê-xu ôi! Xin thương xót tôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Tôi nguyện giao phó linh hồn tôi trong tay Ngài!” Bọn người hành án vừa trói chặt ông vào cây trụ vừa dụ dỗ ngon ngọt ông hãy thu hồi những điều “ngụy tín” của mình đi! Thì ông cương quyết từ chối. Giữa đám lửa hừng bốc cháy, ông lớn tiếng xin Chúa tha thứ cho những kẻ thù nghịch mình, rồi trút linh hồn.

Khi lửa tàn xương thịt ông tiêu tan, bọn lính hất mớ tro tàn ông đem rãi xuống hồ Constance của thành phố, và tuyên bố với ý nghĩ sai lầm rằng: “Để đất khỏi bị tro bụi ông làm cho ô uế!”

Trong sự nghiệp để đời của ông, cả về giảng dạy và trước tác John Huss luôn nhắc nhở đến lòng trung thành cá nhân và một đời sống thánh lành. Ông mang ơn sâu sắc John Wycliffe về những gì mà ông này đã trình bày. Ông rất đề cao vai trò chủ đạo của Thánh Kinh. Dầu ông cũng bảo vệ quyền của các tăng lữ y theo truyền thống, song ông cũng mạnh mẽ giảng dạy rằng chỉ có Đấng Christ là Đấng duy nhất có thể tha thứ tội lỗi con người thôi. Ông phản bác những giáo phẩm đã mất phẩm chất, có những hành vi sai trái lại buộc giáo dân phải vâng lời mình. Ông lên án giáo sĩ làm “Sâu mọt đàn chiên, mục ruỗng Giáo hội” sống bê tha. Ông cũng phê phán Giáo hội không trao Bánh và Rượu (Tiệc Thánh) cho những người đủ điều kiện đang thông công thờ phượng, và ông cũng công kích việc bán cái gọi là “Chứng chỉ giải tội”.

John Huss cũng đã trở nên chủ đề cho các cuộc tranh cãi hết sức dai dẳng ở thủ đô Prague. Cuộc hành trình ông về La mã để thẩm xét, dầu ông được giám sát và canh phòng một cách cẩn mật an toàn do lời cam kết của Hoàng đế Wenceslas, nhưng ông vẫn không thoát khỏi âm mưu của kẻ thù rình rập và bắt đi. Ông đã bị tòa án Giáo hội xét xử một cách bất công độc đoán, không cho ông một cơ may nào để minh giải cho lập trường và những quan điểm của mình cả. Tuy vậy cái chết oanh liệt của ông đã lay động tinh thần dân tộc trong nhân dân Chzelsovakia. Những nhân sự sáng lập Giáo hội theo hệ tư tưởng của John Huss tại xứ Bohemia cho đến thời phục hưng của nhà Hapsburgs năm 1620 có ý đồ dựng lại Giáo hội La mã. Phái Cải chánh theo đường hướng John Huss đã có liên hệ chặt chẽ với tinh thần quật khởi do nhân dân xứ Tiệp chủ xúy, kình chống lại sự thống trị của đế quốc Đức. Cũng có thể nói sự hy sinh của John Huss đã khiến cho các phần tử Cải chánh tại quê hương ông nổi lên tranh đấu mạnh mẽ hơn, và lôi cuốn cả nước Tiệp nhiều thế kỷ về sau, cùng Âu châu trong trào lưu cải tổ Giáo hội sâu rộng.

John Huss tắt nghỉ ngày 6 tháng 6 năm 1415, thọ 46 tuổi.

Lên đầu trang