Hòm giao ước còn có tên là hòm bảng chứng (Xuất 16:34, Lê 16:13), hòm giao ước của Đức Giê-hô-va (Dân 14:44, Phục 18:8) hay hòm giao ước của Đức Giê-hô-va vạn quân (ISa 4:4).
Khi Môi-se lên núi Si-na-i, Đức Chúa Trời truyền lệnh làm đền tạm và làm hòm giao ước bằng gỗ si-tim bọc vàng với hai cây đòn hai bên để khiêng, đúng như kích thước Ngài truyền: bề dài 1, 25 m, bề ngang và bề cao 0, 75 m (một thước/cubit bằng 45-46 cm). Bên trên có nắp thi ân và hai chê-ru-bin cũng bằng vàng (Xuất 25:10-22). Ở trong hòm giao ước có hai bảng điều răn của Chúa để làm chứng cớ về sự lập giao ước của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên, cây gậy trổ hoa của A-rôn để tỏ quyền năng của Chúa và nhắc nhở dân sự về sự phản nghịch của mình (Dân 17:10) và bình vàng đựng ma-na (Xuất 16:33-34). Nên nhớ là đoạn Kinh Thánh nầy thuật lại sự việc trước khi có hòm giao ước: Môi-se nói cùng A-rôn rằng hãy lấy một bình bằng vàng đựng ma-na để trước “sự chứng cớ”. Danh từ “sự chứng cớ” có nghĩa là hòm bảng chứng (the ark of Testimony), và cũng có nghĩa là bản mười điều răn. Vì thế Sứ đồ Phao-lô cũng đề cập đến bình vàng đựng ma-na trong hòm giao ước (Hêb 9:4).
Đối với dân Y-sơ-ra-ên, hòm giao ước là biểu tượng của Đức Giê-hô-va, nơi ngự của Ngài (Xuất 25:22, 30:6). Các nhà thần học cho rằng hòm cũng tượng trưng cho Đấng Christ với gỗ si-tim làm biểu tượng cho nhân tánh (thịt), và vàng tượng trưng cho thần tánh. Hai vật liệu nầy không lẩn lộn với nhau nhưng lại kết hợp toàn vẹn với nhau. Qua hòm giao ước, Đức Chúa Trời gặp dân sự, truyền dạy và dẫn dắt họ trong đồng vắng, nơi trận mạc… Và mỗi năm, dân sự có thể đến với Ngài, dâng đại lễ chuộc tội qua huyết con sinh tế (Lê-vi ký đoạn 16).
Hòm được các thầy tế lễ hay người Lê-vi khiêng đi trước, dân sự theo sau cách chừng 900 m (2000 thước/cubits), không ai được đụng đến hòm nầy, nếu hòm ở trong trại quân thì được thắng, nếu không thì sẽ bị thua (ISa 4:3). Suốt 40 năm trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên đi theo sự hướng dẫn của Chúa, theo trụ mây trụ lửa, và cũng theo hòm giao ước.
Hòm được đặt ở nơi chí thánh phía sau bức màn của đền tạm. Sau khi xây cất đền thánh, vua Sa-lô-môn cho dời hòm giao ước qua đó. Chỉ có thầy tế lễ cả thuộc dòng A-rôn mới được vào nơi nầy mỗi năm một lần để dâng lễ vì nơi đây có sự vinh quang sáng chói của Đức Chúa Trời. Họ phải theo đúng lời chỉ dạy trong khi thi hành chức vụ. Hai con của A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu bị lửa thiêu chết vì đã dâng một thứ lửa lạ mà Ngài không phán dặng họ. U-xa là người khiên hòm vô ý té đụng phải hòm và bị chết trong sân đạp lúa (IISa 6:6-7, I Sử-ký 13:9-10, hai đoạn Kinh Thánh nầy ghi lại tên sân đạp lúa khác nhau: Na-côn trong IISa-mu-ên, và Ki-đôn trong I Sử-ký, có lẽ là cùng một người nhưng có 2 tên khác nhau)
Trong Giô-suê đoạn 3, khi các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước xuống sông Giô-đanh thì nước rẽ ra và dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua như trên đất khô. Họ dựng 12 hòn đá nơi bờ bên kia sông để làm một dấu lưu truyền đời sau cho con cháu về việc nầy. Sau đó họ đóng trại tại Ghinh-ganh, làm phép cắt bì lần thứ hai, dự lễ Vượt qua và chiếm thành Giê-ri-cô. Vì A-can phạm tội lấy vật đáng bị diệt nên dân sự bị thảm bại khi đánh thành A-hi. Giô-suê bèn xé áo và rãi bụi trên đầu mình, ông cùng các trưởng lão sấp mình xuống trước hòm của Đức Giê-hô-va van xin cho đến chiều tối. A-can, con trai, con gái và các vật chi thuộc về người đều bị dân chúng ném đá trong trũng A-cô. Do đó Đức Giê-hô-va nguôi cơn giận và cho dân Y-sơ-ra-ên chiếm thành và bắt giết vua A-hi. Bấy giờ Giô-suê lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va trên núi Ê-banh. Trong thời Các quan xét, hòm giao ước được đặt tại Bê-tên (Quan 20:26-27). Trong thời của thầy tế lễ Hê-li, hòm giao ước được đưa đến đền thờ ở Si-lô (ISa 3:3). Vì hai con của Hê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a phạm tội, Đức Giê-hô-va phó dân sự vào tay người Phi-li-tin: Ba mươi ngàn quân Y-sơ-ra-ên bị giết, trong số đó có hai con trai của thầy tế lễ Hê-li và hòm giao ước bị cướp đi. Khi nghe được tin nầy, Hê-li ngã xuống ghế gãy cổ chết, con dâu người đang có thai thình lình chuyển bụng và sanh một trai, bà đặt tên là Y-ca-bốt nghĩa là thiếu sự vinh hiển vì bà nói rằng “sự vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên, thật sự vinh hiển của Y-sơ-ra-ên đã mất, vì hòm của Đức Chúa Trời đã bị cướp mất”. Dân Phi-li-tin cướp hòm ở Bê-ên-Ê-xe mang về Ách-đốt và đặt trong đền thần Đa-gôn (tượng Đa-gôn nửa mình trên là người, nửa mình dưới là cá). Sáng hôm sau, họ thấy tượng nằm úp mặt xuống đất, trước hòm giao ước. Người Ách-đốt bèn đem Đa-gôn đặt lại chỗ cũ. Ngày hôm sau họ trở lại và thấy Đa-gôn rơi xuống đất trước hòm của Đức Giê-hô-va, đầu và hai tay đều rớt ra nằm trên ngạch cửa, chỉ còn mình mà thôi. Do đó, những thầy cả của Đa-gôn và bất cứ ai vào trong đền đều tránh không đặt chơn trên ngạch cửa. Đức Giê-hô-va giáng họa lớn trên dân Ách-đốt, dẫn sự tàn hại đến trong xứ, bịnh trĩ lậu (hemorrhoids) lang tràng trong dân chúng ở đây và các địa phận chung quanh. Vì vậy họ nhóm họp các quan trưởng Phi-li-tin để tìm cách đối phó. Họ đồng ý là đem hòm qua Gát. Khi hòm vừa đến thì dân thành Gát bị phạt, mọi người đều bị trĩ lậu phát ra. Cho nên họ gởi hòm của Đức Giê-hô-va đến Éc-rôn. Khi hòm đến Éc-rôn, dân chúng cũng bị hành phạt, họ rất sợ hãi và nhóm họp hết thảy các thầy cả và thuật sĩ của dân Phi-li-tin để tìm cách trả hòm về chổ cũ. Hòm của Đức Giê-hô-va ở trong tay dân Phi-li-tin bảy tháng. Cuối cùng họ đóng một cái xe mới rồi bắt hai con bò cái còn đang cho bú, chưa mang ách, thắng vào xe rồi dẫn các con nhỏ chúng nó và chuồng. Kế đó họ đặt hòm giao ước lên xe và để những của lễ chuộc lỗi bằng vàng dâng cho Đức Giê-hô-va cạnh hòm. Đoạn họ cho xe đi và theo sau canh chừng. Vì hai con bò cái chưa biết kéo xe và không muốn rời các con nhỏ còn đang bú, nên nếu xe đi về hướng dân Y-sơ-ra-ên ở Bết-Sê-mết thì chúng biết chắc rằng hình phạt giáng trên họ là do Đức Giê-hô-va, nếu không thì tai họa trên họ chỉ là do sự tình cờ xảy đến mà thôi. Hai con bò cái vừa đi vừa rống, thẳng theo đường về Bết-Sê-mết, không xây bên hữu, cũng không xây bên tả. Bấy giờ, dân Bết-Sê-mết đang gặt lúa mì trong trũng, ngước mắt lên thấy hòm, thì lấy làm vui mừng. Xe đến trong ruộng của Giô-suê tại Bết-Sê-mết và dừng lại đó. Nơi ấy có một hòn đá lớn, người ta bèn bửa gỗ của xe và dâng hai bò cái làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Người Lê-vi lấy hòm của Đức Giê-hô-va xuống khỏi xe, luôn với cái hộp đựng những vật bằng vàng và để trên hòn đá lớn. Trong ngày đó, người Bết-Sê-mết dâng những của lễ thiêu và các của tế lễ khác cho Đức Giê-hô-va. Các quan trưởng của dân Phi-li-tin thấy điều đó, thì trở về Éc-rôn.
Của lễ chuộc lỗi của dân Phi-li-tin dâng cho Đức Giê-hô-va gồm: năm hình trĩ lậu bằng vàng, một cái của Ách-đốt, một cái của Ga-xa, một cái của Ách-kê-lôn, một cái của Gát, một cái của Éc-rôn. Chúng lại dâng thêm năm con chuột bằng vàng theo số các thành Phi-li-tin trên. Hòn đá lớn, nơi người ta để hòm của Đức Giê-hô-va tại ruộng của Giô-suê, người Bết-Sê-mết, là kỷ niệm về điều nầy.
Đức Giê-hô-va hành hại bảy mươi người Bết-Sê-mết vì họ nhìn vào hòm. Dân sự đều để tang vì Đức Giê-hô-va đã phạt họ một tai họa rất nặng. Bấy giờ, dân Bết-Sê-mết nói: “Ai có thể đứng nổi trước mặt Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chí thánh? Khi hòm lìa khỏi chúng ta, thì sẽ đi đến ai?” Họ bèn cho người đến Ki-ri-át-Giê-a-rim và nói rằng: “Dân Phi-li-tin đã đem trả hòm của Đức Giê-hô-va, hãy đi xuống đem nó về nơi các ngươi” (ISa 6). Người Ki-ri-át-Giê-a-rim đến thỉnh hòm của Đức Giê-hô-va, đem vào nhà A-bi-na-đáp, ở trên gò nổng, rồi biệt riêng con trai của A-bi-na-đáp là Ê-lê-a-sa ra đặng coi giữ hòm. Hòm của Đức Giê-hô-va để tại Ki-ri-át-Giê-a-rim cho đến ngày vua Đa-vít thỉnh về Giê-ru-sa-lem (ISa 7:1-2).
Trong ISa 14:18-19, vua Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ A-hi-gia rằng: “Hãy đem hòm của Đức Chúa Trời đến gần” (vì trong ngày đó hòm của Đức Chúa Trời ở cùng dân Y-sơ-ra-ên). Nhưng trong khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì tiếng ồn ào lại càng thêm lên trong trại quân Phi-li-tin. Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ rằng: “Hãy rút tay ngươi lại”. Đoạn nầy cho chúng ta biết rằng Sau-lơ đang ở tại Ghi-bê-a cùng với thầy tế lễ A-hi-gia mặc áo ê-phót, và hòm giao ước cũng ở chổ nầy. Tuy nhiên, theo như chúng ta biết, lúc nầy hòm giao ước vẫn còn để tại Ki-ri-át-Giê-a-rim trong nhà A-bi-na-đáp (ISa 7:1-2 và IISa 6:2-3). Bản dịch bảy mươi (Septuagint) không nói đến hòm giao ước mà chỉ nói là mang áo ê-phót ra… và hãy rút tay ngươi lại có nghĩa là rút tay ngươi khỏi túi áo ê-phót. (And Saul said to Achia, Bring the ephod; for he wore the ephod in that day before Israel. And it came to pass while Saul was speaking to the priest, that the sound in the camp of the Philistines continued to increase greatly; and Saul said to the priest, Withdraw thy hands. I Samuel 14:18-19, LXX)
Sau khi lên ngôi, Đa-vít tuyển chọn ba mươi ngàn người trong dân Y-sơ-ra-ên cùng ông đi thỉnh hòm của Đức Chúa Trời. Họ đem hòm ra khỏi nhà của A-bi-na-đáp, ở tại trên gò nỗng, để trên một xe mới (như vậy hòm giao ước được giữ tại đây trên 70 năm, một thời gian rất dài). U-xa và A-hi-giô, con trai A-bi-na-đáp, lo việc khiên hòm và kéo xe: U-xa đi gần bên hòm, còn A-hi-giô đi trước. Đa-vít và dân chúng đều múa hát trước mặt Đức Giê-hô-va với đủ thứ nhạc khí bằng gỗ bá hương, đờn cầm, đờn sắt, trống, bạt, và mã la. Khi đến sân đạp lúa của Na-côn (hay Ki-đôn), vì các con bò vấp ngã nên U-xa vô tình giơ tay lên nắm hòm giao ước. Đức Chúa Trời phạt U-xa vì lầm lỗi đó và người chết cạnh bên hòm. Vua Đa-vít lấy làm buồn thảm và lo sợ, người nói rằng: “Hòm của Đức Giê-hô-va sẽ thế nào vào nhà ta được?” Vậy Đa-vít truyền mang vào nhà Ô-bết-Ê-đôm, người Gát. Hòm của Đức Giê-hô-va ở trong nhà Ô-bết-Ê-đôm ba tháng. Đức Giê-hô-va ban phước cho Ô-bết-Ê-đôm và cả nhà người. Đa-vít thấy vậy bèn đi thỉnh hòm của Đức Chúa Trời từ nhà Ô-bết-Ê-đôm đến thành Đa-vít một cách vui mừng. Khi những người khiêng hòm đi sáu bước, thì vua Đa-vít tế một con bò đực và một con thú mập béo. Đa-vít mặc áo ê-phót vải gai, nhảy múa hết sức mình tại trước mặt Đức Giê-hô-va (hòm giao ước). Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên lấy lời vui mừng và tiếng nhạc khí mà nghinh tiếp hòm của Đức Giê-hô-va. Nhưng khi hòm vào thành Đa-vít, thì Mi-canh (con gái của Sau-lơ, vợ Đa-vít) nhìn qua cửa sổ, thấy vua nhảy múa, thì trong lòng khinh bỉ người, cho rằng vua đã nhảy múa ngoài đường không đúng cương vị của một vì vua, vì thế Đức Chúa Trời phạt bà không mang con với Đa-vít. Vậy, họ mang hòm của Đức Giê-hô-va vào đặt ở giữa trại, rồi Đa-vít dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân trước mặt Đức Giê-hô-va (IISa 6:1-21). Khi hoàn tất Đền Thánh, vua Sa-lô-môn cho dời hòm giao ước vào nơi chí thánh.
Sau đó là thời kỳ đất nước chia đôi, đến các đời vua không đi theo đường lối của Đức Chúa Trời… mãi cho đến đời vua Giô-si-a, thầy tế lễ Hinh-kia tình cờ tìm được quyển sách luật pháp (Kinh Thánh), gây sự phục hưng tôn giáo cho đất nước. Vua truyền lệnh theo luật pháp trong Kinh Thánh, giữ ngày lễ Vượt qua và để hòm giao ước tại đền thánh (II Sử-ký 35:3). Trước đó hòm giao ước đã bị dời đi bởi một trong những vì vua không tin kính Chúa hoặc bởi những thầy tế lễ muốn bảo vệ hòm hay cũng có thể được dời đi để tu sửa. Đây là lần cuối cùng Kinh Thánh nói đến hòm giao ước. Trong Tân Ước, Phao-lô nhắc đến hòm giao ước (Hêb 9:4) và trong Khải 11:9 có nói đến hòm giao ước ở trên trời.
Vào thời kỳ phục hưng tôn giáo đời vua Giô-si-a, tiên tri Giê-rê-mi có viết: “Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, khi các ngươi sanh sản thêm nhiều ra trong đất, thì người ta sẽ không nói đến hòm giao ước của Đức Giê-hô-va nữa! Người ta sẽ không còn tưởng đến, không còn nhớ đến, không còn tiếc đến, và không làm một cái khác” (Giê 3:16). Đây cũng là lời tiên tri về Đức Chúa Jêsus vì Ngài là Hòm Giao Ước đời đời không hề hư mất, qua Ngài mọi người có thể đến cùng Đức Chúa Trời. Vì thế khi Đức Chúa Jêsus trút linh hồn trên thập tự giá thì bức màng trong đền thánh bị xé làm đôi từ trên xuống dưới và Kinh Thánh không có nói là hòm giao ước còn ở nơi chí thánh hay không.