Họ hàng

Relatives. Parenté.
I. Trong Kinh Thánh để chỉ về mối quan hệ ruột thịt, có thể tìm trong các bài cha, anh em v.v…. Có khi cũng dùng những tên đó để chỉ về đời trước hay ngay sau dòng họ đó, như ông, cháu, v.v…. Không phân biệt như quốc ngữ: ông nội, cháu nội, v.v….
II. Để chỉ mối quan hệ họ hàng ruột bởi sự làm thông gia với nhau, thì người ta dùng: 1) cậu, 2) cô, 3) cháu trai, 4) cháu gái, 5) anh em họ.
III. Mối quan hệ bởi phép giao thì có các cách gọi là: 1) ông gia, 2) bà gia, 3) con rể, 4) con dâu, 5) anh rể, 6) chị dâu.
Những vấn đề họ hàng đối với gia đình và kinh tế có thể tìm trong bài Hôn nhơn, Cơ nghiệp, Hưởng, huyết, và báo thù.

Hoa Flower. Fleur.
Hoa ở xứ Pha-lê-tin đa dạng về hình dáng và màu sắc. Nhưng vì khí hậu nóng bức quanh năm, mà mưa lại ít, nên mỗi năm hoa chỉ tươi tốt vào cuối mùa Xuân và nở rộ ra được vài tuần lễ thôi. Gióp 14:2 nói: “Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát”. Ý nói mạng sống người ta khác nào hoa ở đồng nội, qua cơn gió thổi liền bị hư tàn! (Thi 103:15; Ês 28:1; Gia 1:10).

Lên đầu trang