HEBER, REGINALD
(1783-1826)
Reginald Heber là một vị Mục sư, người được Đức Chúa Trời phú ban cho tài nghệ về thi ca phi thường. Ông Heber chào đời trong một gia đình danh vọng và giàu sang, lại thụ huấn một nền giáo dục gia phong nề nếp. Ông có năng khiếu văn chương ít ai có. Nhưng ông đã từ bỏ hết con đường danh vọng tương lai trước mắt, mà hiến dâng mình để chuyên chú làm đồ dùng của Đức Chúa Trời, ông cũng biệt dâng mình để chuyên tâm vào việc cải tiến Thánh nhạc. Thời niên thiếu, ông Heber mơ ước có thể đến rao giảng Tin lành ở Ấn độ, là một nước rộng lớn xa xăm mà ông nghe nói hàng triệu người đang sống trong bóng đêm tội lỗi, thờ lạy tà thần, hình tượng. Và ông đã đạt được mục đích của mình. Ông đã đến Calcutta, phục vụ Chúa nhiều năm ở đó, giảng truyền Đạo Chúa cho người dân bản xứ. Ông rất thích đem Tin lành tới cho những người kém may mắn, khốn cùng. Tuy nhiên phải mất rất nhiều năm mới có người đầu tiên làm “Trái đầu mùa” trong công tác của ông, người này được ông đặt tên là David. Ông Reginald thọ lãnh chức Giám mục tại thành phố Calcutta vào năm 1823, với trách nhiệm lớn trong những vùng lân cận. Cuối cùng, ông Heber phải lâm bệnh và chết tại Ấn độ, chấm dứt công tác truyền Đạo giữa vòng những người chưa được khai hóa.
Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ Giáo trưởng, ông Heber đã viết nhiều tác phẩm văn học (?) được nhiều văn hào tên tuổi lúc ấy đánh giá cao. Thời điểm này văn chương Anh quốc chuyển hướng. Phong trào phóng khoáng càng mang nhiều sắc thái tao nhã vào không khí thờ phượng của Cơ đốc giáo. Nhưng sự nghiệp để đời được truyền tụng của Mục sư Reginald Heber thuộc về lãnh vực Thánh ca.
Năm 1819, một buổi chiều trước ngày lễ Ngũ Tuần, Mục sư Heber và nhạc phụ của ông là một tôi tớ Chúa tên là Wrexham Vicarage phải đi lưu giảng ở một nơi. Ngày hôm sau nhạc gia ông được yêu cầu giảng một bài khích lệ việc truyền giáo ở nước ngoài, ông cụ liền xin con rể mình viết cho một bài Thánh ca thích hợp với đề tài này. Trong lúc Hội chúng khởi sự thờ phượng thì, Mục sư Heber tìm một nơi yên tĩnh viết 3 khổ thơ rồi trao cho nhạc phụ xem. “Anh viết gì thế?” Ông cụ hỏi; thì Heber liền đọc nhỏ cho ông cụ nghe, ông cụ gật đầu tán thưởng. Nhưng Heber thấy chưa được “Chưa xong đâu, ba à!” Nói xong ông viết luôn một mạch nữa. Sáng hôm sau, trong một buổi họp. Toàn tín hữu vui mừng hát vang bản Thánh ca mới của ông, câu thứ ba:
“Còn Phi châu kia biết bao người
Chưa được chuộc vãn chơi vơi.
Người Âu khoe tân tiến tuyệt vời
Thật hình thức không mà thôi
Tuy Mỹ châu thạnh cường nổi danh,
Bao kẻ đang trông Tin lành
Nhìn xem Úc châu phía nam mình.
Còn đang đắm trong tội tình…”
Bài Thánh ca này (Thánh ca Việt nam số 354) đã được ông Lowell Mason soạn nhạc.
Một Thánh ca nữa đượm nhuần giáo lý tin kính cũng của Mục sư Heber, đó là bài “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay!” (Thánh ca Việt nam số 40), mà Hội chúng của Đức Chúa Trời thường dùng hát mỗi lần khai lễ thờ phượng.
Một ngày, Mục sư Heber đọc đến Ê-sai 6:1-3 ông bỗng cảm xúc dạt dào trước khải tượng uy nghi, ngời chiếu vinh quang của Ba Ngôi Thánh Chúa mà nhà tiên tri ngày xưa đã thấy. Mặc dầu Mục sư Heber thừa biết rằng giáo lý Ba Ngôi chưa được đa số con dân Chúa trong Hội Thánh của ông hiểu rõ cho lắm trước ngày lễ Ngũ tuần, nhưng Mục sư Heber hiểu rõ rằng lẽ đạo quan trọng này được trình bày cả trong Tân Ước lẫn Cựu Ước của Thánh Kinh, nhất là câu trong Khải thị 4:8 “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay, là Chúa, là Đức Chúa Trời, là Đấng Toàn năng, trước đã có, nay hiện có, và sau còn mãi đời đời”. Ông Heber đã biên soạn Thánh ca ngợi tụng Chúa theo những ý tưởng này:
“Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay!
Đấng Chủ Tể oai quyền
Đang khi tưng tưng sáng
Chúng tôi đã dâng khúc hoan ca…”
Bài này được John B. Dykes đặt nhạc và xuất bản năm 1861, với tựa đề “Bản Thánh ca Nicea”, tức là nhằm đề cao Bản tín điều nổi tiếng về lẽ đạo Ba Ngôi, đã được Giáo hội nghị ở tại Nicea năm 325 chuẩn thuận.