Herodians. Hérodiens. Một đảng nhà Hê-rốt được người Giu-đa ủng hộ, họ tưởng làm như thế sẽ thoát khỏi quyền cai trị của người ngoại bang mà mình rất gớm ghiếc và là cơ hợi tốt để giữ bổn đạo thuần túy khỏi lẫn lộn với ảnh hưởng văn minh người ngoại bang. Vì thế, có khi đảng nầy sốt sắng đến nỗi coi Hê-rốt Đại đế và các Hê-rốt kế vị như là Đấng Mê-si. Song đối với dân Giu-đa, các Hê-rốt đó giống như Antiochus Épiphane là Antichrist của Cựu Ước (Đa-ni-ên 8:1-; 11:1-), ấy vì dọn đường cho Antichrist Tân Ước. Các vua đó đem văn minh Hy-lạp như là triết lý, trò hát, v.v… và những sự thờ hình tượng lẫn lộn với sự thờ phượng của đạo Do-thái. Dầu có khi nhà Hê-rốt bất trung với Chúa như thế, song đảng đó cứ ủng hộ nhà Hê-rốt vì lầm tưởng đó là diều cần thiết. Vậy, về phần chính sách đối với đạo Do-thái, đảng Hê-rốt hiệp với phe Pha-ri-si; về phần theo đạo Do-thái thì họ theo cách sơ sài và lối làm hiệp với phe Sa-đu-sê. Ấy cũng cắt nghĩa “men” của đảng Hê-rốt là gì (Mác 8:15).
Bởi đó thật dễ hiểu tại sao phe Pha-ri-si hiệp với đảng Hê-rốt lập mưu để giết Chúa Jêsus (Mác 3:6). Chúa đến để lập nước thuộc linh, điều đó trái với lễ nghi bề ngoài của phe Pha-ri-si và trái với chính trị của đảng Hê-rốt. Khi Chúa gần làm trọn chức vụ, hai phe đảng đó cứ lập mưu để bắt và nộp Ngài trong tay quan tổng đốc (Mat 22:15-16; Mác 12:13; Lu 20:20). Họ lấy lời dua nịnh nói Ngài “không tư vị ai” mà thử Ngài: “Có nên nộp thuế cho Sê-sa không?” Họ lập ý nếu Chúa đáp “không” thì nộp Ngài cho chánh phủ La-mã; nếu đáp “phải”, thì xui dân sự nghịch cùng Ngài vì trái với luật pháp (Phục 17:15). Song Ngài biết ý xấu của họ, họ hỏi chỉ để thử Ngài. Chúa bảo hãy đưa cho Ngài xem đồng tiền nộp thuế. Trên đồng tiền đó có hình và hiệu của Sê-sa nên thuộc về Sê-sa, nên Ngài phán cách khôn ngoan: “hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời”. Vì người được dựng nên như hình Chúa nên thuộc về Chúa (Sáng 1:27; 9:6; Công 17:29; Lu 15:8-9). Vì dân Giu-đa không thật dâng mình cho Chúa nên lúc đó ở dưới quyền Sê-sa. Giáo phụ Claudius viết: “Câu họ hỏi đó giống như người phạm tội tà dâm hỏi: “tôi có nên chịu hình phạt vì tội mình không?” (IISử 13:8; Giê 27:4-18).
Dân Do-thái phải vâng phục Sê-sa như thế cũng tỏ ra một lẽ đạo quan trọng về người phải vâng phục Đức Chúa Trời là Đấng ban phát mọi quyền (Rô 13:1; IIPhi 2:13-14; Giăng 19:11). Lời đáp của Chúa không phân rẽ, nhưng gộp hai bổn phận về tôn giáo và chính trị của tín đồ Đấng Christ lại với nhau. Dầu vậy, về sau, khi Chúa đứng trước mặt Phi-lát, hạng người trái nghịch đó dám kiện Ngài rằng: “Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ là Vua (Lu 23:2).
Hê-rốt, Dòng họ:
Hê-rốt Antipater, vua hay tổng đốc Giu-đê (47-43 TC.), là cha của Hê-rốt Đại Đế.
Hê-rốt Đại Đế, vua Giu-đê (37 TC.-4 SC.). Ông là người xây cất Đền thờ Giê-ru-sa-lem và giết các con trẻ tại Bết-lê-hem. Các con của ông là:
Antipater (mẹ là Doris), bị cha giết chết vào năm 4 TC..
Aristobulus (mẹ là Mariamne), bị cha giết vào năm 7 TC. cùng với mẹ là bà Mariamne.
Alexander (mẹ là Mariamne), bị cha giết vào năm 7 TC. cùng với mẹ là bà Mariamne.
Hê-rốt Phi-líp (mẹ là Mariamne con gái của Simon).
Hê-rốt An-ti-ba (mẹ là Malthace, người Sa-ma-ri), là vua chư hầu xứ Ga-li-lê và Bê-rê, chết năm 39 TC.
Hê-rốt A-chê-la-u (mẹ là Malthace, người Sa-ma-ri), vua chư hầu xứ Giu-đa, 4 TC. đến 6 SC.
Hê-rốt Phi-líp (mẹ là Cleopatra, người Giê-ru-sa-lem), vua chư hầu xứ Gaulonitis, Tra-cô-nít và Paneas, 4 TC. đến 34 SC.
Các con của Hê-rốt Aristobulus:
Hê-rốt, vua Calchis, chết năm 48 SC.
Hê-rốt Ạc-ríp-ba I, vua Giu-đa, chết năm 44 SC.
Hê-rô-đia (Mác đoạn 6).
Các con của Hê-rốt Ạc-ríp-ba I:
Hê-rốt Ạc-ríp-ba II, vua Calchis, chết năm 100 SC.
Bê-nê-rít (Công 25:23).
Đơ-ru-si (Công 24:24).