Ha-ba-cúc

Ha-ba-cúc Habakkuk. Habacuc (người được ôm ẵm).

Một tiểu tiên tri đồng thời với Giê-rê-mi. Sự tích về cuộc đời ông chỉ thấy chép ở sách Ha-ba-cúc. Sách được chép vào khoảng 605-597 T.C., tức là khi Nê-bu-cát-nết-sa đánh bại Ai-cập ở Cạt-kê-mít (IICác 23:34; IISử 35:20), và Giê-hô-gia-kim trị vì.

Tác giả.– Ý nghĩa tên Ha-ba-cúc là “được ôm ẵm”, chắc chỉ về tiên tri là người được ơn trước mặt Chúa. So IICác 4:16, các thầy thông giáo xưa tin rằng Ha-ba-cúc là con của người nữ Su-nem. Luther có viết về tác giả rằng: “Chắc ông là người hết lòng, nhiệt thành đối với người khác, ôm chặt người đó trong cánh tay mình. Ha-ba-cúc có nói như vậy trong lời tiên tri mình: ông yên ủi và nhắc dân sự mình lên như một người bồng con trẻ đang khóc, dỗ dành cho đến khi nín lặng, vì biết cám ơn Chúa, nên sẽ được điều tốt lành hơn trước”. Ở 1:1 và Thi-thiên trong đoạn 3 đều ngụ ý nói Ha-ba-cúc là người Lê-vi. Lời viết cuối sách: “phó cho quản phường nhạc khảy đờn mà hát bài nầy”, dường như tỏ ra Ha-ba-cúc rất thích sáng tác các bài ca mà mình đã cảm động viết ra bởi Đức Thánh Linh cũng giống như những Đấng tiên kiến, người Lê-vi và những người ca hát A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun (ISử 25:1-5).

Tài liệu.– Ha-ba-cúc là sách thứ tám thuộc hàng tiên tri nhỏ, có thể chia làm sáu phần. Bốn phần trước là lời vấn đáp giữa Chúa và Ha-ba-cúc. Hai phần sau là những lời tiên tri khi được Chúa soi sáng.

I. 1:1-4.– Ha-ba-cúc ở giữa hạng người mạnh tợn, ông bèn hỏi Chúa tại sao không dũ lòng thương, nhậm lời kêu cầu mà ban ơn cứu giúp?

II. 1:5-11.– Chúa dùng điều người đời lạ lùng, kinh hãi, khó tin, để đáp lại ông tức là khiến người Canh-đê dấy lên, lấy sức mạnh mà đến chiếm giữ đất nước.

III. 1:12-17. Những câu sau này viết tiếp theo sau khi người Canh-đê chiếm xứ chỗ đất giáp giới với Y-sơ-ra-ên. Mắt ông thấy cái tình trạng hung dữ đó, nên ở câu 17 ông bèn hỏi Chúa, là Đấng công bình, sao lại để điều dữ lấn lướt như vậy?

IV. 2:1-4.– Ha-ba-cúc chờ đợi mạng lịnh Chúa; được Chúa soi bảo ông mới biết kết cuộc việc đó đã gần đến: kẻ ác sẽ bị tuyệt diệt, người công bình nhờ đức tin sẽ được sự sống.

V. 2:5-20.– Người Canh-đê sẽ bị hình phạt: một, vì kiêu ngạo buông lung; hai, vì tham của bất nghĩa; ba, vì thông đồng với công việc tàn ác; bốn, vì say đắm không thẹn thuồng; năm, vì làm hình tượng tà thần.

VI. 3:1-19.– Phần nầy là lời cầu nguyện đặt theo lối thi ca, như là tiếng vang thuộc linh, tóm tắt những lời tiên tri trước để soi sáng dân sự Chúa. Lời cầu nguyện, cảm tạ và nhờ cậy đều là chìa khóa thuộc linh, để mở những sự mầu nhiệm hiện nay về Đức Chúa Trời quản trị trái đất. Bài thơ là một sự tranh chiến giữa sự sợ hãi và sự trông cậy; song cuối cùng đức tin thắng hơn cách vui mừng nhờ những sự rèn thử (17-19). Ha-ba-cúc nhắc dân sự nhớ lại những câu chuyện ở Pha-ran, Thê-man, và Biển Đỏ mà nhờ Chúa lấy sự oai nghiêm Ngài can thiệp đến, để giải cứu dân sự khỏi kẻ thù. Cũng vậy, tín đồ vẫn luôn có thể được sự vui mừng trong Chúa, là Đấng cứu rỗi và là Đấng mạnh sức của mình.

Suốt cả sách, Ha-ba-cúc rất gắng sức và chuyên chú để tỏ ra bổn tánh công bình của Đức Chúa Trời, vì người Canh-đê dùng sự tàn bạo mà được đắc thắng thì trái lẽ với điều này. Đại ý cả sách Ha-ba-cúc giải quyết vấn đề trên.

Phao-lô trưng dẫn Ha 1:5 để răn dạy người Giu-đa tại An-ti-ốt, xứ Bi-si-đi (Công 13:41). Ba lần ông trưng dẫn 2:4 “người công bình thì sống bởi đức tin mình”, đây là một lẽ thật cốt yếu xuyên suốt cả Kinh Thánh bắt đầu từ Áp-ram (Sáng 15:16):

1. Rô 1:17 chú trọng chữ “công bình” tức là công bình của Đức Chúa Trời và giải thích sự xưng công bình là gì;

2. Ga 3:11, chú trọng chữ “đức tin” tức là điều cốt lõi để được xưng công bình;

3. Hêb 10:38 chú trọng chữ “sống” là sự sống lưu xuất bởi được xưng công bình.

Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn của Ha-ba-cúc như sau nầy:

Dường như Ha-ba-cúc hành chức tiên tri trong những năm chót của vua Giô-si-a (637-606 T.C.). Về chính cuộc đời của tiên tri thì không có chép gì cả. Bổn tánh Đức Giê-hô-va tỏ ra cho Ha-ba-cúc bằng những lời lẽ thuộc linh nhứt. Trong các tiên tri, điều duy nhất ông muốn bày tỏ là sự thánh khiết của Đức Giê-hô-va hơn là lo về việc dân Y-sơ-ra-ên khỏi bị sửa phạt. Sách nầy được chép khi dân sắp bị làm phu tù, Ha-ba-cúc là lời chứng của Đức Chúa Trời về chính Ngài nghịch với sự thờ hình tượng và vạn vật hữu thần giáo.

Có thể chia sách làm năm phần:

I. Ha-ba-cúc khó giải quyết vì có tội lỗi Y-sơ-ra-ên và sự nín lặng của Chúa, 1:1-4 so Phục 28:64-67; theo lịch sử lúc nầy Giê-hô-va nhịn nhục vì vua Giô-si-a ăn năn (IICác 22:18-20). II. Giê-hô-va đáp lại vấn đề tiên tri khó giải quyết, 1:5-11.

III. Được trả lời rồi, tiên tri làm chứng cho Giê-hô-va, 1:12-17; song cứ tỉnh thức chờ Chúa đáp lời nữa, 2:1.

IV. Đang khi tiên tri tỉnh thức thì Chúa trả lời bằng “sự hiện thấy”, 2:2-20.

V. Hết thảy mọi sự tận cùng bằng Thi-thiên cao siêu về Nước Chúa trong Ha 3:1-.

Coi cả sách, ta thấy Ha-ba-cúc luôn nghi vấn và mong được trả lời về vấn đề: Đức Chúa Trời để người ta làm ác như thế, có xứng hiệp với bổn tánh Ngài chăng. Tiên tri tưởng vì Chúa là thánh khiết, nên không có thể cứ chịu sự gian ác của Y-sơ-ra-ên. Chúa đáp rằng Ngài sẽ khiến người Canh-đê xông hãm (1:6), và dân Y-sơ-ra-ên phải tan lạc khắp thế gian (2:5). Nhưng Giê-hô-va không phải giận mà thôi; “Ngài lấy sự nhơn từ làm vui thích” (Mi 7:18), và Chúa thêm vào câu đáp lại cho tiên tri bằng những lời hứa lớn lao, 1:5; 2:3, 4, 14, 20.

Đoạn 1:5.– Câu nầy báo trước về Y-sơ-ra-ên “tản lạc giữa các dân” (Phục 28:64-67). Trong khi Y-sơ-ra-ên bị tản lạc như thế thì Đức Giê-hô-va sẽ “làm ra một việc” mà Y-sơ-ra-ên “không tin”. Công 13:37-41 giải nghĩa lời dự ngôn về công việc cứu chuộc của Đấng Christ. Phao-lô dẫn việc nầy cho những người Giu-đa tan lạc tại nhà Hội Thánh An-ti-ốt thật đáng chú ý.

2:2. Câu “… hầu cho người đương chạy đọc được” nên đọc là “hầu cho người đọc chạy được” tức là như sứ giả của “sự hiện thấy” so Xa 2:4-5.

2:3.– Khi tiên tri đang chờ đợi, thì Chúa đáp lại bằng sự hiện thấy (2:2-20). Có ba điều được tỏ ra:

1. Đức Giê-hô-va lấy luân lý mà đoán xét những sự ác của Y-sơ-ra-ên tan lạc (2:5-13; 15-19).

2. Ý định tương lai của Chúa là “sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước đầy tràn biển” (câu 14). Sự khải thị nầy còn chờ Chúa lấy vinh hiển trở lại được tỏ ra:

a) bởi khúc Ês 11:9-12; và

b) bởi lời dẫn 2:3 trong Hêb 10:37-38 “nó” trở nên “Đấng” và chỉ về Chúa tái lâm. Lúc đó, sau sự “hiện thấy” nầy đã ứng nghiệm, thì “sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va… sẽ đầy dẫy khắp đất…”.

3. Nhưng trong khi chờ Chúa tái lâm “người công bình sống bởi đức tin mình”. Lời Tin lành lớn lao đó cũng áp dụng cho người Giu-đa và người ngoại bang trong Rô 1:17; cho người ngoại bang trong Ga 3:11-14; và cho người Hê-bơ-rơ, trong Hêb 10:38. Điều nầy mở đường cho sự sống bởi đức tin mà thôi, chẳng những cho người ngoại bang có thể được cứu rỗi trong khi Y-sơ-ra-ên tan lạc giữa các dân (Ha 1:5; Ga 3:11-14), nhưng cũng cho dân sót lại của Y-sơ-ra-ên có thể tin Chúa đang khi cả dân cứ đui mù mà không tin (Rô 11:1-5), không có chức tế lễ hay đền thờ, nên không thể giữ mạng lịnh của luật pháp. Giê-hô-va là Đấng như thế! Khi Chúa theo khuôn phép cai trị thì dân Y-sơ-ra-ên Ngài xưa bị phạt đuổi ra khỏi xứ và họ cứ đui mù về luật pháp (IICôr 3:12-15); song theo sự thương xót của giao ước, thì mỗi một người Giu-đa có thể nhờ đức tin đơn sơ như Áp-ra-ham mà được cứu (Sáng 15:6; Rô 4:1-5). Nhưng ấy không phải là bỏ giao ước Pha-lê-tin (Phục 30:1-9) và Đa-vít (IISa 7:8-16) vì “vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất” (câu 14), và Đức Giê-hô-va “sẽ ở trong đền thánh của Ngài” lần nữa (câu 20 so Rô 11:25-27).

2:4.– So Ês 11:9 thì biết khi nào “khắp đất đầy dẫy vinh quang Chúa”. Ấy là khi Nhánh Công bình mà Đa-vít đã lập nước Ngài (xem bài Nước và IISa 7:9; Xa 12:8; cũng xem Lu 1:31-33; ICôr 15:28).Câu 14 nầy thêm ý vào Ês 11:9. Trong Ê-sai chép “thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va”, ngày nay đang được ứng nghiệm; song Ha 2:14Mat 24:30; 25:31; Lu 9:26; IITê 1:7; 2:8; Giu 14). Sự Chúa hóa hình trên núi chỉ trước về việc đó (Lu 9:26-29). chép “sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất”, điều này không xảy ra trước khi Chúa lấy sự vinh hiển đến cách tỏ tường (

Lên đầu trang