Giu-đe, Thơ

The General Epistle of Jude. Épitre de Saint Jude.
I. Tác giả.–Câu 1 sách Giu-đe chép trước giả là Giu-đe, tôi tớ Chúa, và em Gia-cơ. Chắc Gia-cơ nầy chỉ về trước giả thơ Gia-cơ, làm đầu trưởng Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Bởi đó có thể biết Giu-đe là anh em của Chúa, không phải là một Sứ đồ; vì có tên Giu-đe trong danh sách anh em Chúa (Mat 13:55; Mác 6:3) và trong Giu-đe câu 17 cũng tỏ ra trước giả không phải là Sứ đồ. Tuy nhiên, có người cho rằng anh em Chúa đó là con của A-phê, cũng cho rằng có thể Giu-đe là Sứ đồ Giu-đe (Giăng 14:22). Trừ danh chép đó, không có nói gì về Giu-đe nầy, chỉ biết các anh em Chúa không tin Ngài lúc Ngài còn sống (Giăng 7:5), sau khi Ngài sống lại mới tin theo (Công 1:14). Theo Eusebius, văn sĩ trong Hội Thánh đầu tiên là Hégésippe, có chép một truyện hay về các cháu của Giu-đe, vậy chứng tỏ ICôr 9:5 cũng chỉ về Giu-đe có vợ, và qua đời trước 80 S.C.. Tertullien và Jérôme làm chứng rằng “thơ nầy là bởi Giu-đe”; và Origène chứng rằng Giu-đe, em Chúa, có chép một thơ tín tuy ngắn ngủi, song đầy lời mạnh mẽ của ơn trên trời”.
II. Chứng cớ thơ là thật.–Vì thơ ngắn, nên không có bằng cớ rõ chứng tỏ là trong thế kỷ thứ I Hội Thánh đầu tiên dùng đến thơ nầy. Về sau Eusebius xác nhận rằng phần nhiều trong Hội Thánh công nhận thơ là thật. Có người nghi ngờ vì thơ nầy cũng nhắc đến truyện tích “thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỉ dành xác Môi-se” (Giu 9), mà chỉ có sách Apocryphe của Hê-nóc chép. Cả Jérôme cũng viết như vậy. Giu-đe chỉ như Phao-lô khi trích từ sách Aratus, Épimenide, và Ménander (Công 17:28; Tít 1:12; ICôr 15:33); và như Phao-lô cũng đặt tên hai thuật sĩ Ai-cập là Gian-nét và Giam-be (IITi 3:8). Vậy, Giu-đe được Đức Thánh Linh cảm động, đã lấy ra một viên ngọc báu khỏi bùn đất để nạm vào giữa vàng của Chúa, tức là Giu-đe chỉ chứng minh lời truyền khẩu về Mi-chen chép trong sách Apocryphe của Hê-nóc là thật mà thôi. Về sau trong Hội Thánh Hy-lạp và La-tinh từ lúc ban đầu đều công nhận thơ Giu-đe thuộc về Kinh Thánh.
III. Nơi và niên hiệu chép thơ.–Căn cứ theo lời văn thì dường như trước giả chép tại xứ Pha-lê-tin; và nhan đề “em Gia-cơ” đúng với ý là chép tại xứ mà nhiều người đều biết Gia-cơ làm đầu trưởng Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Dầu có nhiều ý kiến khác nhau, song phần nhiều tin rằng thơ chép vào phần chót thế kỷ thứ nhứt và sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá 70 S.C.. Nếu vậy, người ta tự hỏi sao thơ không nói đến biến động quan trọng đó, song phải nhớ rằng ngay cả Sứ đồ Giăng trong các thơ mình cũng không nói đến biến cố này. Giu-đe câu 17, 18 tỏ ra thơ nầy chép ít lâu sau khIPhi-e-rơ chép thơ thứ hai (độ 68 S.C.). Vậy thơ nầy chép sau khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, có lẽ trong khoảng 70 đến 80 S.C..
IV. Thơ gởi cho ai.–Câu 5, 7 chép về sử ký Cựu Ước và câu 14 chép về lời truyền khẩu của người Giu-đa, chắc trước tiên Giu-đe gởi thơ nầy cho tín đồ Giu-đa, và sau là cho mọi tín đồ (câu 1). Thơ IIPhi-e-rơ cũng như thế. Những người bị quở trách là người theo tà giáo: “Chối Đấng chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ”, là những người phóng đãng (libertins). Vậy Giu-đe ân cần viết thơ nầy “để khuyên anh em vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giu 3, 4). Không nên lầm những người phóng đãng đó với những tín đồ theo tà giáo trí huệ, dầu khuynh hướng về tà giáo đó nhiều.
Lúc Giu-đe chép thơ đã có số ít người sống đời sống phóng đãng. Điều này được Phao-lô vẽ ra trong ICôr 5:1-13; 6:13-20 người phạm tội dâm loạn, trong ICôr 11:17-22 người ăn uống cách không xứng đáng và quá độ, trong ICôr 8:1-; 10:14-32 người dự phần về việc cúng tế thần tượng, trong ICôr 2:16-23; 3:5-11 người giữ những ngày lễ, mặt trăng mới hoặc ngày Sa-bát, ấy “đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới”. 20 năm, sau khi Giu-đe chép, những điều ấy đã có trong các Hội Thánh Tiểu A-si, vì trong Khải 2:20 Chúa quở trách Hội Thánh Thi-a-ti-rơ về giáo sư: “rủ phạm tội tà dâm và ăn thịt cúng thần tượng”. Bởi đó thật dễ hiểu khi Giu-đe đang chép thì đã có người xưng mình là giáo sư song là “kẻ chẳng tin kính đối với ơn Đức Chúa Trời ra việc tà ác” “lẻn vào trong” Hội Thánh. Kết quả là có tín đồ “buông theo sự dâm dục và sắc lạ… làm ô uế xác thịt mình, khinh dễ quyền phép rất cao”. Giu-đe quở trách những người đó, và khuyên các tín đồ để tránh khỏi những sự cám dỗ đó, phải “tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhơn Đức Thánh Linh mà cầu nguyện, giữ mình trong sự yêu mến Chúa và trông đợi sự thương xót Đức Chúa Jêsus Christ để được sống đời đời”. Giu-đe cũng nhắc lại đó sẽ là đặc điểm về những ngày trước khi Chúa Jêsus tái lâm, cũng như Hê-nóc răn dạy người ta trước ngày nước lụt.
So sánh Giu-đe với IIPhi 2:1–3:4.–Khi so sánh Giu-đe và IIPhi-e-rơ thì thấy Giu-đe câu 4a giống IIPhi 2:1a; Giu 4b giống IIPhi 2:1b; Giu 16 giống IIPhi 2:3; và Giu 5, 6 giống IIPhi 2:4, 5. Những sự giống nhau giữa hai thơ nầy là bởi:
1. Trong Giu-đe đã có các giáo sư giả càng xấu xa hơn và gian ác hơn;
2. Trong IIPhi-e-rơ có dùng lời mô tả các giáo sư giả, song dùng chữ “sẽ” để luôn chỉ về tương lai. Nếu Phi-e-rơ có dùng Giu-đe mà chép, thì không thể nào cắt nghĩa tại sao Phi-e-rơ dùng chữ “sẽ” đó (IIPhi 2:1-3). Phi-e-rơ chép về thiên sứ phạm tội, Giu-đe chép về sự bội đạo; Phi-e-rơ chú trọng về Nô-ê và gia đình được cứu, Giu-đe chép về những kẻ khỏi làm tôi mọi song về sau bị diệt vì cớ không tin; Phi-e-rơ chép về số phận hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ và nhấn mạnh sự gia đình Lót được cứu, Giu-đe chú trọng về tội lỗi hai thành đó và tỏ ra đã “chịu phạt bằng lửa đời đời”. Những ví dụ của Giu-đe là tối tăm và thiếu hy vọng hơn những ví dụ của Phi-e-rơ. Cũng thế, Phi-e-rơ chép về Ba-la-am là sự răn dạy tín đồ về sự tham tiền, Giu-đe lấy việc Ca-in vì tham lợi mà gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am và bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê, ông trách những giáo sư giả rằng: “Khốn nạn thay” cho các ngươi.
Nên chú ý về Giu 22, 23:1- Giu-đe khuyên những tín đồ bền lòng trung tín giữ mình trong sự yêu mến Chúa phải xử thế nào về những tín đồ vì cớ giáo sư giả bị cám dỗ sắp sửa sa ngã, cần phải thương xót (có bản dịch là “trách phạt”) những kẻ trù trừ; về những tín đồ đứng trong địa vị nguy hiểm hơn, nếu có thể, phải cứu vớt họ ra khỏi lửa; về những tín đồ đã sa ngã hẳn, phải có lòng thương lẫn với sợ e rằng bị ô uế chăng. Như thế, Giu-đe tóm tắt lại công việc xấu hổ đáng gớm ghiếc của những người phóng đãng trong Hội Thánh. Vậy, lời chúc phước và cầu nguyện của câu 24, 25 tỏ ra Chúa có thể gìn giữ tín đồ nào nhờ Chúa được khỏi vấp phạm để đứng trước mặt vinh hiển Ngài cách rất vui mừng, không chỗ trách được… hiện nay cho đến đời đời.
Tiến sĩ Scofield có chú thích về thơ Giu-đe như sau nầy:
Tiểu dẫn.– Tác giả: Giu-đe, em Gia-cơ (1:1).
Niên hiệu: Có lẽ 66 S.C..
Chủ đề: Chẳng phải Giu-đe tự mình nói song nói bởi Đức Thánh Linh cảm động (câu 3). Đại ý là “anh em vì đạo mà tranh chiến” (so Lu 18:8). Trong thư ngắn nầy nói đến sự bội đạo của Hội Thánh bề ngoài, nguyên nhân và sự lan tràn của đạo giả. Như trong IITi-mô-thê và IIPhi-e-rơ, Giu-đe chép dường như sự bội đạo đã có rồi.
Có thể chia thơ Giu-đe làm năm phần:
1. Lời tựa, 1, 2;
2. Nguyên nhân chép thơ: vì sự bội đạo, 3, 4;
3. Xét sử ký thấy có thể bội đạo, 5-7;
4. Mô tả các giáo sư bội đạo, 8-19;
5. Tín đồ trung tín được vững lòng và an ủi 7 điều trong bổn phận, 20-25.
Câu 1.– “Được… gìn giữ” chỉ về sự biết chắc của tín đồ là bởi đức tin, chỉ nhờ Đấng Christ mà nhận lấy sự cứu rỗi và được gìn giữ trong đó đời đời mãi mãi. Sự biết chắc đó chỉ dựa vào những lời hứa của Kinh Thánh giành cho người có lòng tin.
Câu 6.– “Sự phán xét” các thiên sứ sa ngã. “Ngày lớn” đó chỉ về ngày của Chúa (Ês 2:9-22 so 4:1-6; Khải 19:11, 21). Vì sự phán xét quỉ Sa-tan xảy ra sau 1.000 năm bình an trước ngày phán xét cuối cùng (Khải 20:10), vì vậy có thể quyết định rằng khi đến kỳ những thiên sứ sa ngã khác cũng sẽ bị phán xét chung với Sa-tan (IIPhi 2:4; Khải 20:10). Các tín đồ sẽ xét đoán thiên sứ sa ngã chung với Đấng Christ (ICôr 6:3). Xem bài “Phán xét”.
Câu 11.– Xem bài Ca-in, bài Ba-la-am và bài Cô-rê.
Câu 23.– Xem bài Xác thịt.

Lên đầu trang