Giô-suê Joshua. Josué (Giê-hô-va là sự cứu rỗi).
Con trai của Nun, thuộc chi phái Ép-ra-im (ISử 7:27). Trước kia ông tên là Hô-sê, nghĩa là “người sẽ cứu”, song sau khi đã do thám xứ Ca-na-an, Môi-se đặt tên là Giô-suê, tức là thêm vào danh tắt của Giê-hô-va, nghĩa là Giê-hô-va bởi người sẽ cứu dân Y-sơ-ra-ên (Dân 13:8, 16). Ý nghĩa nầy so sánh với ý nghĩa danh Jêsus là “chính con trai… sẽ cứu” (Mat 1:21), không phải là Chúa bởi con trai ấy sẽ cứu… Chữ Jêsus theo tiếng Hy-lạp là tương đối với Giô-suê theo tiếng Hê-bơ-rơ.
Giô-suê ra đời chừng lúc Môi-se trốn đến xứ Ma-đi-an. Lúc thanh niên, Giô-suê chịu khổ, làm tôi mọi giữa những lò làm gạch tại xứ Ai-cập. Lần thứ nhứt, tên Giô-suê chép trong Kinh Thánh (Xuất 17:9) là lúc Môi-se bảo hãy chọn lấy chiến sĩ để chiến đấu cùng dân A-ma-léc. Về sau Giô-suê biết cách cai trị là vì trước đó đã học tập vâng lời. Giô-suê thắng hơn A-ma-léc và bắt đầu phá hủy những dân tộc đã bị Chúa đoán phạt, ấy là của cầm cho Giô-suê biết chắc sẽ chiếm được xứ Ca-na-an. Chúa bảo Môi-se hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm, và nói cho Giô-suê biết Chúa sẽ bôi sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ (Xuất 17:14). Từ trẻ, ông đi theo Môi-se, cùng đi với A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu cùng 70 trưởng lão lúc Môi-se lên núi Si-na-i một mình (Xuất 24:9, 13-15). Lúc Môi-se xuống núi lần thứ nhứt thì Giô-suê nghe dân chúng la lên, tưởng là tiếng hò hét khi chiến đấu, song chỉ là tiếng ca hát thờ phượng con bò vàng (Xuất 32:17). Khi Môi-se dựng trại ở ngoài trại quân thì Giô-suê, “kẻ hầu trẻ của Môi-se” không ra khỏi trại (Xuất 33:11). Họp lại trong nhà Chúa và giao thông với Ngài là hai điều cần yếu cho người nào muốn đi đánh trận cho Chúa.
Trong số 12 người được sai đi do thám xứ Ca-na-an, có Giô-suê làm đại biểu của chi phái Ép-ra-im, và Ca-lép, đại biểu của chi phái Giu-đa. Chỉ có hai người nầy đem tin tốt về Ca-na-an cho Y-sơ-ra-ên biết và khuyên hãy đi lên và chiếm xứ, vì có thể thắng được, ấy là vì họ biết Chúa cùng đi với mình (so Thi 106:24; Dân 13:8, 16; 14:1-). Khi Giô-suê và Ca-lép cố khuyên dân sự, thì cả hội chúng đòi ném đá hai người, nhưng sự vinh quang của Chúa thình lình hiện ra trên hội mạc; Chúa phạt mười người do thám khác chết vì dịch lệ. Chỉ có Giô-suê và Ca-lép được sống sót, “vì theo Chúa cách trung thành”; trái lại, vì cớ không vâng lời Chúa ở Ca-đe-Ba-nê-a thì hết thảy những người từ 20 tuổi trở lên đều bị ngã chết trong sự lưu lạc 40 năm nơi đồng vắng (Dân 14:26-29; 32:11-12). Ít lâu trước khi Môi-se qua đời, Chúa bảo phải chọn Giô-suê, là người có Thần cảm động, mà đặt tay trên mình người, để người lãnh chức thay Môi-se đứng đầu trên dân sự. Vậy đủ biết tuy Giô-suê dầu có ơn Chúa bề trong rồi, song bề ngoài cũng cần được đặt tay để dân sự công nhận chức vụ của ông (Dân 27:18-23; Công 9:1-18; 10:41-44). Giô-suê kém Môi-se ở chỗ phải ra mắt Ê-lê-a-sa là thầy tế lễ, mà nhờ U-rim để cầu hỏi Chúa, trái lại Môi-se được giao thông trực tiếp với Chúa (Dân 27:21). Khi Giô-suê không cầu hỏi ý Chúa về dân Ga-ba-ôn, thì phải bị mắc lừa (Giô 9:22). Rồi Môi-se dẫn Giô-suê đến trước mặt Ê-lê-a-sa và cả hội chúng, đặt tay trên người, và truyền lịnh cho như Chúa phán. Trong Phục 31:14-23, có chép về lễ phong chức cho Giô-suê, và chính Chúa hiện ra nơi trại, trong một trụ mây mà làm chứng cho (so Dân 11:25; 12:5). Lúc Môi-se chép bài ca để dạy dân Y-sơ-ra-ên về sự bội đạo, thì Chúa ra lịnh cho Giô-suê rằng: “Hãy vững lòng bền chí, vì ngươi sẽ đưa dân Y-sơ-ra-ên vào trong xứ mà ta đã thề ban cho chúng nó: còn ta, ta sẽ ở cùng ngươi” (Phục 31:22-23). Giê-hô-va truyền lịnh cho Giô-suê lần nữa (Giô 1:1-9), khuyên hãy bền lòng, bền chí, chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả và hứa cho Giô-suê được thạnh vượng bất cứ ở nơi nào, vì Ngài vẫn ở cùng, Chúa làm nhiều phép lạ, và ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ đã thề ban cho tổ phụ; những lời Chúa phán thảy đều ứng nghiệm hết (21:43-45). Dân sự tôn kính Giô-suê như Môi-se, và trong đời Giô-suê dân Y-sơ-ra-ên rất cần biết mục đích mà Chúa đã đặt trước mặt dân đó (11:15; 24:31). Tại Si-tim, Giô-suê sai người đi do thám Giê-ri-cô, đi qua sông Giô-đanh, đóng trại tại Ghinh-ganh, làm phép cắt bì cho dân sự (việc làm này là dấu dân sự biệt mình riêng ra thánh cho Chúa) thì mới xứng đáng hầu việc Ngài (Giô 10:40; Quan 5:31), giữ Lễ Vượt Qua chính ngày dân sự ăn thổ sản của xứ… vì sáng mai ma-na hết, và bởi tướng đạo binh Chúa được biết chắc chắn Giê-ri-cô sẽ sập đổ, và Chúa sẽ đánh những kẻ thù Y-sơ-ra-ên (Giô 5:13-15; 6:2-5; so Mat 26:53; Xuất 23:20-23; Khải 19:11-14). Chúa bảo: “Hãy lột giày khỏi chơn ngươi”, chứng tỏ rằng tướng đạo binh đó là Đức Chúa Trời của tổ phụ đã hiện ra cùng Môi-se (Xuất 3:5-6). Bởi phép lạ của Chúa, tường thành Giê-ri-cô sập đổ. Nhưng sự thất bại trước thành A-hi, vì cớ tội tham lam của A-can, dạy dỗ dân Y-sơ-ra-ên phải vâng theo ý thánh Chúa mới được đắc thắng. A-hi đã bị chiếm cứ. Giô-suê lập bàn thờ cho Chúa trên núi Ê-banh và khắc trên đá một bản luật pháp mà đọc hết trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên (8:1-).
Vì không cầu hỏi ý Chúa, Giô-suê bị gạt mà kết ước với dân Ga-ba-ôn; song vì danh dự mà ông phải giữ lời thề đã lỡ đó (Thi 15:4; Phục 5:2; so IISa 21:2-6 v.v…). Vì cớ đó năm vua đồng minh đánh nhau với Y-sơ-ra-ên song Chúa ở cùng và làm hai phép lạ: khiến mưa đá từ trời rớt xuống giết nhiều người hơn là gươm của Y-sơ-ra-ên, và cho mặt trời dừng lại (so IICác 20:11). Nên chú ý phép lạ thứ hai, theo Giô 10:12, không phải mặt trời dừng lại ở mọi nơi, nhưng chỉ ở trong địa phương Ga-ba-ôn, trên trũng A-gia-lôn mà thôi. Có lẽ vì lời cầu nguyện của Giô-suê, Chúa làm cho trời sáng, và mặt trời phản chiếu sau khi đã lặn xuống dưới chân trời, như người ta nói ở cù lao Sicile thỉnh thoảng có hiện tượng ấy, và cả trong miền bắc cực cùng Nam cực. Kinh Thánh có chép mặt trăng luôn với mặt trời ngừng lại, phải chăng tỏ ý rằng địa cầu nầy xoay trên trụ mình, nên khi mặt trời dừng lại thì mặt trăng cũng vậy? Ha 3:10-11 cũng có nói đến điều này. Ba chữ “không vội lặn” (10:13b) tỏ ra mặt trời lặn cách từ từ chớ không phải là bỗng chốc.
Giô-suê ở miền nam xứ Ca-na-an, chinh phục từ Ca-đe-Ba-nê-a đến Ga-xa (10:41), rồi đến Gia-bin cùng các vua đồng minh ở các nước miền Bắc tại Mê-rôm (11:8), từ phía núi trụi mọc lên phía Sê-i-rơ cho đến Ba-anh-Gát (11:17), trong trũng Li-ban tại chân núi Hẹt-môn cho đến tận “Si-đôn lớn” (thời đó Ty-rơ kém Si-đôn, sau trong đờISa và các vua mới lớn hơn). Dân Y-sơ-ra-ên có khi không muốn tận diệt, nhưng mạng lịnh Chúa là phải tuyệt diệt dân Ca-na-an (Giô 10:40). Giống như cơn động đất và ôn dịch, dân Y-sơ-ra-ên chỉ là những người Chúa dùng, chớ không phải họ thích đổ máu, họ bị bắt buộc phải trừ diệt tội thờ hình tượng mà Chúa ghen ghét, qua đó họ cũng ghen ghét tội này nữa. Trong thời gian 500 năm qua, Đức Chúa Trời đã cố nhịn chịu khi các dân tộc mắc tội đó. Sự tin kính của Mên-chi-xê-đéc và sự đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cũng không dẫn các dân tộc đó đến sự ăn năn. Bây giờ mới là lúc “tội lỗi được đầy dẫy” (so Sáng 15:16). Vậy trong 6 năm, 6 nước và 31 vua, kể cả giống người giềnh giàng là A-na-kim đều ngã trước mặt Giô-suê. Sự tuyệt diệt đó thật là “một công việc thương xót cho các dân tộc cả trái đất”.
Kế đó, Giô-suê đã già, ông cùng với thầy tế lễ Ê-li-a-sa và các trưởng lão phân chia xứ cho các chi phái (Giô 14:1; 17:4). Người ta chia cho ông Thim-nát-Sê-rách trong núi Ép-ra-im là thành Giô-suê xin (19:50). Điều này tỏ ra lòng vị tha lạ lùng của Giô-suê vì ông có thể xin phần tốt nhứt nhưng Giô-suê chỉ lấy phần còn sót lại. Hội chúng Y-sơ-ra-ên lập hội mạc Chúa tại Si-lô (18:1). Sáu thành ẩn náu được chỉ ra, có 48 thành cất cho người Lê-vi, hai chi phái và phân nửa chi phái trở về bên kia sông Giô-đanh (20:1-; 21:1-; 22:1-). Sự trễ nải về sự không vâng lời Chúa của Y-sơ-ra-ên ngăn trở Giô-suê làm trọn công việc của mình (18:3), về sau sanh ra những trái xấu như chép trong sách Các quan xét.
Sau khi trong xứ được hòa bình, Giô-suê đã già, ông gọi các quan trưởng Y-sơ-ra-ên họp lại, và dựa vào sự từng trải của mình về lời Chúa hứa giúp, và các phước lành nếu không bội đạo, ông khuyên dân sự “hãy vững lòng gìn giữ luật pháp” (23:6), như Chúa đã bảo chính mình khi trước (1:7). Lần sau nữa, ông lại nhóm họp các chi phái với các trưởng lão ở tại Si-chem, là nơi Áp-ram lãnh lời hứa thứ nhứt của Chúa sau khi đến xứ Ca-na-an (Sáng 12:6-7); là nơi Gia-cốp ở Mê-sô-bô-ra-mi trở về mà dời những hình tượng đi (Sáng 23:19; 25:2-4), cũng vậy, Giô-suê khuyên dân Y-sơ-ra-ên lập giao ước buộc mình phải bỏ mọi hình tượng (Giô 24:1-). Tại đây cũng chôn hài cốt của Giô-sép (Giô 24:32).
Giô-suê, con trai Nun, tôi tớ Đức Giê-hô-va, qua đời, tuổi được 110, cai trị dân 26 năm, và được chôn trong địa phận tại Thim-nát-Sê-rách ở trên núi Ép-ra-im (24:29-30). Trong bài Giô-suê từ giã Y-sơ-ra-ên, sự tin kính của người được bày tỏ rất rõ (24:1-28). Chúa hứa ban xứ Ca-na-an cho Áp-ra-ham chẳng phải vì công đức riêng, nhưng vì ân điển Ngài. Các tổ phụ và cha Áp-ra-ham “đã hầu việc các thần khác” (24:2-14; Sáng 31:3, 19, 34), song Giê-hô-va, bởi phép lạ đã dắt Y-sơ-ra-ên vào xứ hứa đó, vậy Y-sơ-ra-ên phải bỏ các thần đã phục sự tại Ai-cập (Lê 17:7; Êxê 20:19; Giô 24:14). Nếu nhứt định không vâng lời mà tự dẫn đến chỗ hư mất, thì “hãy chọn ai mà mình muốn phục sự…; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (24:15). Cũng xem (Sáng 18:19; Ru 1:15-16; ICác 18:21; Giăng 6:67; Lu 10:42). Khi dân sự cậy sức mình mà hứa sẽ trung tín với Chúa (như Phi-e-rơ trong Lu 22:33), Giô-suê đáp rằng: “Các ngươi không đủ sức phục sự Đức Giê-hô-va thánh”, nếu không “cất các thần ngoại bang trong lòng các ngươi đi” (có thể dịch 24:23 như vậy vì lúc đó họ không có các hình tượng bằng gỗ hoặc đá, v.v…). Cũng xem Phục 6:5-6; Mat 6:24. Giữ hình tượng trong lòng ngăn trở hầu việc Chúa cách trung tín vì Chúa là Đấng kỵ tà (Xuất 20:5; Êxê 20:39). Dân sự quyết định phục sự Chúa nên Giô-suê lập giao ước giữa Chúa với họ, ông chép trong sách luật pháp Chúa, và dựng tại đó một hòn đá lớn gần nơi thánh của Đức Chúa Trời để làm chứng. Vì cớ gương sáng của Giô-suê, Y-sơ-ra-ên phục sự Chúa trọn đời của Giô-suê và các trưởng lão nữa.
Giô-suê là một chiến sĩ lớn và rất tôn kính Chúa. Dường như ông chỉ mắc hai lỗi: có lòng ghen tương không phải cho mình, song cho Môi-se (Dân 11:28-29; so Giăng 3:26; Lu 9:49; Công 15:8-9; 11:17), và không tìm cầu Chúa trước khi kết ước với dân Ga-ba-ôn nên bị gạt (Giô 9:1-). Bởi sự vâng lời lúc thanh niên mà Giô-suê học tập cai trị lúc cao tuổi, và vẫn tỏ lòng tin cậy Chúa và thờ phượng Tướng của đạo binh Chúa, có lòng rộng rãi, can đảm, ái quốc.
Tiến sĩ Scofield có chú thích về Giô-suê như sau:
Giô 1:1.– Giô-suê (Hê-bơ-rơ: Giê-hô-sê, tức là Giê-hô-va Cứu Chúa làm hình bóng về Đấng Christ, là “quan tướng của sự cứu rỗi ta” (Hêb 2:10-11). Gồm mấy điểm quan trọng là:
1. Ngài đến sau Môi-se (Giăng 1:17; Rô 8:3-4; 10:4-5; Hêb 7:18-19; Ga 3:23-25).
2. Ngài dẫn dắt ta được thắng trận (Rô 8:37; IICôr 1:10; 2:14).
3. Ngài là Đấng cầu thay của ta khi bại trận (Giô 7:5-9; IGiăng 2:1).
4. Ngài chia phần cho ta (Êph 1:11, 14; 4:8-11).
II. Người Bết-sê-mết. Khi con bò kéo hòm giao ước từ Phi-li-tin về, dừng lại ở đồng ruộng của người nầy (ISa 6:14).
III. Quan cai thành Giê-ru-sa-lem, đời Giô-si-a, vua Giu-đa (IICác 23:8).
IV. Thầy tế lễ cả cùng xây đền thờ với Xô-rô-ba-bên, Giô-suê nầy cũng gọi là Giê-hô sua (Aghê 1:1-2:4; Xa 3:1-;6:1-). Cũng xem bài Giê-sua.