Jeremiah. Jérémie (Giê-hô-va làm cho bền vững).
Một đại tiên tri, sanh năm sau rốt đời vua Ma-na-se, làm tiên tri trong đời cha con vua Giô-sia trị vì, bắt đầu từ năm 625 T.C. đến khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, tức là năm 586 T.C. (Giê 1:2, 3). Về sau ông bị người Giu-đa chạy trốn ép phải đi sang Ai-cập (Giê 43:6, 7). Người ta đồn rằng Giê-rê-mi bị ném đá chết, song việc đó không có bằng cớ. Ông nói tiên tri rằng dầu dân trốn vào Ai-cập, song cuối cùng chắc cũng không tránh khỏi nạn binh đao của Nê-bu-cát-nết-sa! Đến khi quân lính Canh-đê chiếm xứ bảo hộ nước Ai-cập, bấy giờ lời đó mới được ứng nghiệm (Giê 43:8-12). Từ năm 605 đến năm 538 T.C., Ba-by-lôn trở nên một nước rất mạnh, rất lớn, thật không sai mấy với lời Giê-rê-mi nói tiên tri rằng dân Giu-đa kiều ngụ ở Ba-by-lôn 70 năm (Giê 25:11; 29:10).
I. Phẩm chất của Giê-rê-mi.–Giê-rê-mi là người làng A-na-tốt. Làng nầy ở phía Đông bắc thành Giê-ru-sa-lem độ 5 cây số, xây trên chót núi, có thể trông thấy đất núi ở Ép-ra-im và hang núi bên sông Giô-đanh. Giê-rê-mi thường nói về việc Giu-đa. Những hình ảnh mà ông thường nhắc đến thường gợi lòng người Y-sơ-ra-ên nhớ đến nước cũ (Giê 4:15; 7:14, 15; 12:5; 31:4-6). Tư tưởng ông khác với Ê-xê-chi-ên. Năm 626 T.C., Chúa sai ông nói tiên tri về sự hưng thịnh và suy tàn của các nước. Nhưng ông vì tuổi trẻ, sợ việc, không muốn nhận chức. Khi đó, tâm trí ông còn chưa bền vững, về sau ông mới trở nên người trí, dõng kiêm toàn: chẳng những miệng thuật ý chỉ của Chúa, mà chính thân ông lại làm chứng cho Chúa nữa. Nghe theo lời Chúa, ông không lấy vợ, cũng không có con (Giê 16:1-13).
Trải hơn 40 năm, ông lấy lẽ thật ngăm vua, trách dân. Suốt đời, ông hằng bị gièm chê, thường gặp sự nguy hiểm. Khi mới được kêu gọi, ông sốt sắng dâng mình để làm việc tiên tri. Kế đó, vì thấy lời mình chưa được ứng nghiệm, ông bèn sanh lòng nghi ngờ, không muốn làm tiên tri nữa. Đến khi hiểu ý Chúa, lòng tin của ông mới vững vàng. Cuối cùng, ông làm trọn được nhiệm vụ tiên tri (Giê 8:18; 15:15-21; 17:14-18; 20:7-13; 36:32).
Trong thời gian ông làm tiên tri, có thể chia ra làm bốn giai đoạn:
1. Năm 626-621 T.C..– Khi đó tuổi ông còn trẻ, ông quở trách tội lỗi dân tộc mình và nói trong tương lai sẽ chịu tai vạ. Giê 2:1–6:1- chép những lời ông nói trong lúc đó. Nhưng mãi hơn 20 năm sau sách ông mới được viết, e rằng lời chép không khỏi có chỗ hơi khác với lời nói, mặc dầu phần nhiều thì giống nhau.
2. Năm 621 T.C.đến năm 608 T.C..– Vua Giô-sia sửa đổi việc nước. Bấy giờ Giê-rê-mi đã bỏ được ý nghĩ sai lầm, trong lòng trấn tỉnh lần lần, ông im hơi lặng tiếng đến 12 năm. Vì ông cho rằng lần cải cách đó chỉ do ý vua, chớ không phải là ý chung của dân. Vả lại, các lời tiên tri của ông còn chưa ứng nghiệm, mà việc lành ông thấy trước mắt chỉ là giả dối, hư không. Vì vậy, lòng ông còn có chỗ nghi ngờ, nên mới im lặng, không nói để tỏ ý rằng muốn sửa trị việc nước nhà mà mình không thật lòng, thì không thể cứu được nước. Chỉ có cách là phải thường ghi tạc pháp luật Chúa vào lòng mới được (Giê 31:33).
3. Năm 608 đến năm 604 T.C..– Giê-rê-mi đã đến thời kỳ lão luyện và từng trải của chức vụ. Khi vua Giô-sia chết trận, ông muốn làm chứng về việc ngày trước vua trừ bỏ hình tượng mà thờ kính Chúa đều là giả dối không thật, nên không thể không lại đem lời Chúa mà dạy bảo. Những lời ông nói chép ở Giê 7:1-8:3; bảo dân chớ cậy thành Giê-ru-sa-lem có đền thờ, vì Chúa sẽ hủy bỏ như Si-lô (Giê 7:4-14). Vì thế, dân chúng bèn bắt ông, định khép vào tội chết. Nhưng các quan trưởng cho ông là tiên tri, nên cứu khỏi chết (Giê 26:1-). Từ Giê 7:1- đến đoạn 12:1- quá nửa phần ấy là lời ông nói lúc bấy giờ. Từ Giê 14:1–20:1- là phần thêm vào sau lúc Giê-hô-gia-kim đốt sách (Giê 36:27-32). Lúc đó Giê-rê-mi đã có đức tin vững, không nghi ngờ, nên đã làm nổi trọng trách mà Chúa giao phó, nói tiên tri về việc thịnh, suy của các nước.
4. Năm 604 đến năm 586 T.C..– Thành Giê-ru-sa-lem phải chịu cực khổ trong thời kỳ suy thế. Bấy giờ tâm trí Giê-rê-mi yên tĩnh, mới rõ hết ý chỉ của Chúa. Giê-rê-mi đoạn 30:1- đến đoạn 33:1- làm vào khoảng đó. Phần sách nầy vốn đặt riêng làm một quyển, có thể gọi là tập kỷ lục chép lời yên ủi. Giê-rê-mi dầu mục kích cảnh thành tan, nước mất, vua bị bắt cầm tù, dân bị tù, song lòng ông vẫn không sợ. Vì Chúa phán bảo rằng: “Những ngày đến bấy giờ ta sẽ đem những kẻ bị phu tù của dân Y-sơ-ra-ên và dân Giu-đa trở về… Ta sẽ khiến chúng nó trở về trong đất mà ta đã ban cho tổ phụ chúng nó, và chúng sẽ được đất ấy làm sản nghiệp” (Giê 30:3). Tổng cương lời yên ủi đó tức là Giê 31:31-34 nói về lập giao ước mới. Kinh Thánh Cựu Ước không có chỗ nào hơn chỗ đó. Chúa Jêsus nhờ đó lập ra lễ Tiệc Thánh (Lu 22:20), và cũng là cội gốc đạo cứu thế (Hêb 10:14-18).
II. Sách Giê-rê-mi.– Sách nầy quá nửa là tiên tri Giê-rê-mi và thơ ký Ba-rúc làm chung (Giê 36:1-). Nguyên nhân viết sách chẳng qua là vì một quyển sách nhỏ chép trong Giê 2:1–12 bị Giê-hô-gia-kim đốt mất, nên làm lại lần sau nhiều hơn lần trước. Sách nầy đặt tên là tập ghi chép tai vạ. Ngoài ra, lại có những lời Giê-rê-mi diễn giảng ở sau, và có lời Ba-rúc thuật về việc Giê-rê-mi, cũng có phần do người khác làm ra nữa. Trải qua nhiều tác giả, có tăng thêm và sửa đổi nhiều. Dầu gọi chung là sách Giê-rê-mi, song người khác thêm vào cũng không phải là ít. Sách nầy có thể chia làm 7 phần lớn:
I. Phần ghi chép tai vạ do Giê-rê-mi thuật bằng miệng nhưng do Ba-rúc cầm bút chép. Coi Giê 1:1–20:1-; 25:1- thấy đều như thế cả. Trong khoảng Giê 46:1–51:1- có vài câu lẫn ở trong đó. Trừ Giê 9:23-10:16 là lời bổ lục ra, có thể chia tập ghi chép tai vạ nầy ra hai cuốn: trước và sau.
Cuốn trước: Giê 2:1–12:1- là sách bị vua đốt mất. Giê 36:2-25 lại có thể chia làm đôi: nửa trên là Giê 2:1–6:1- được viết trước khi vua Giô-sia sửa đổi việc nước, song trong đó e có chỗ lầm lẫn, như Giê 3:6-18 đáng phải ở vào trước hoặc sau đoạn 2 và đoạn 3. Còn nửa dưới là Giê 7:1–12:1- làm nhằm năm 608 T.C..
Cuốn sau: Giê 1:1-; 14:1–20:1- có lẽ Giê 25:1- cũng ở trong đó, là những lời thêm vào cuốn trước, song cùng một ý (Giê 36:32).
2. Phần luận về kẻ chăn dân, chịu phán xét (Giê 21:11-23).
3. Phần luận về Giê-rê-mi, như Giê 13:1-; 24:1-; 27:1–29:1-; 35:1-; đều nói về việc từ năm 600 đến năm 543 T.C..
4. Phần chép lời yên ủi (Giê 30:1–33:1-). Nhưng trong đó, từ Giê 32:16-33:26, dường như người đời có thêm vào phần này.
5. Phần Ba-rúc chép về việc Giê-rê-mi. Giê 21:1-10; 26:1-; 34:1-; 37:1–39:1- chép về những việc trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá. Giê 40:1–44:1- chép sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá, Giê 45:1- là lời của Ba-rúc, song chỗ đó e có sự lẫn lộn!
6. Phần nói tiên tri về các nước (Giê 46:1–51:1-). E rằng có chỗ do người sau làm ra, chớ không phải hết thảy là lời của tiên tri Giê-rê-mi.
7. Phần tổng quát về cuốn trước. Xét kỹ Giê 52:1- thấy tương tựOnspan> với IICác 24:18-25:30; có lẽ là của E-xơ-ra thêm vào.
Những điều thuật trên đây chẳng qua là nói tổng quát. Vì trong sách còn có vài câu chưa biết cội gốc ra sao, như Giê 9:23-26. Lại có những chỗ do người sau phụ thêm vào, như Giê 50:1–52:1-; 10:1-16; 33:14-26.
Lời tiểu dẫn sách Giê-rê-mi của tiến sĩ Scofield:
Giê-rê-mi khởi sự chức vụ mình trong năm thứ XIII đời vua Giô-sia, độ 60 năm sau khi Ê-sai qua đời. Trong thời kỳ thi hành chức vụ đầu tiên thì Giê-rê-mi đồng thời với Sô-phô-ni và Ha-ba-cúc; còn chức vụ sau thì đồng thời với Đa-ni-ên. Khỏi ít lâu sau khi vua Giô-sia chết, nước Giu-đa bị tàn phá và dân sự bị đày qua Ba-by-lôn. Giê-rê-mi cứ ở trong xứ giúp đỡ dân đáng thương còn sót lại (IICác 24:14) cho đến khi họ bị đày qua xứ Ai-cập. Giê-rê-mi theo họ và chết tại đó đầu khoảng 70 năm bị lưu đày. Giê-rê-mi nói tiên tri trước và đang khi dân Do-thái bị đày đi. Thế thì Giê-rê-mi liên hiệp với các tiên tri trước khi dân bị đày với Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên, tiên tri đang khi dân bị đày.
Sự hiện thấy của Giê-rê-mi gồm: thời dân làm phu tù tại Ba-by-lôn; thời dân hết hạn 70 năm trở về; thời tan lạc qua các nước thế gian, thời thu lại cuối cùng, thời Đấng Mê-si trị vì; ngày phán xét các quyền thế ngoại bang, và dân sót lại.
Sách tiên tri có sáu phần lớn:
I. Từ lúc tiên tri được kêu gọi cho đến lúc gởi lời khuyên các phu tù đầu tiên 1:1-29:32.
II. Các lời tiên tri và những biến động không chép theo thứ tự của lịch sử, 30:1-36:32.
III. Từ khi vua Sê-đê-kia lên ngôi cho đến khi vua bị bắt làm phu tù, 37:1-39:18.
IV. Các lời tiên tri Giê-rê-mi đã nói trong xứ sau khi dân Giu-đa bị đày đi lần cuối cùng, 40:1-42:22.
V. Giê-rê-mi trong xứ Ai-cập, 43:1-44:30.
VI. Mấy lời tiên tri khác, 45:1-52:34.
Tiến sĩ cũng chú thích thêm như sau:
Giê 2:1. Chúa Giê-hô-va nhờ Giê-rê-mi quở trách và sửa dạy dân Giu-đa lần thứ nhứt, có ba ý:
1. Ngài nhắc cho dân sự nhớ những ngày mà Y-sơ-ra-ên được hạnh phước và được giải cứu 2:1-7;
2. Ngài trách móc họ đã lìa bỏ Ngài, 2:13.
3. Ngài tố cáo họ đã chọn các thần vô quyền khác, 2:10-12; 26:28. Ta nên kể mọi lời quở trách nầy như là bài giảng bởi Chúa soi dẫn, nói ra cho dân sự về sau chép (so Giê 36:1-32).
Giê 3:6.– Ý thông thường của bài quở trách dân Giu-đa lần thứ hai là:
1. Tố cáo dân Giu-đa vì thấy dân Y-sơ-ra-ên (nước phía Bắc, IICác 17:1-18) bị Chúa sửa phạt song không có ích cho mình, 3:6-10;
2. Cảnh cáo dân Giu-đa cũng sắp bị sửa phạt như thế (câu 15-17);
3. Lời khuyên cảm động gọi dân trở về cùng Đức Giê-hô-va, 3:12-14; và,
4. Lời hứa về dân cuối cùng sẽ trở về xứ mình và được phước hạnh, 3:16-18.
Giê 7:1.– Đại ý của sứ mạng này giống như lời phán thứ nhứt và thứ hai, là quở trách, răn dạy và khuyên bảo. Song sứ mạng nầy gởi cho những người trong dân Giu-đa còn thờ phượng Chúa bằng bề ngoài; ấy là một sứ mạng cho phần Giu-đa còn giữ đạo, 7:2, 9, 10; 8:10, 11.
Giê 4:23.– So Sáng 1:2. “Vô hình và trống không” mô tả trái đất bị hủy phá vì bị Chúa đoán phạt (4:24-26; Ês 24:1), câu này đã lật đổ trật tự đầu tiên của Sáng 1:1.
Giê 11:1.– Như mấy sứ mạng trước, bài nầy cũng quở trách, răn dạy và khuyên bảo, vì họ phạm đến giao ước Pha-lê-tin (xem Phục 28:1-30:1-9). Y-sơ-ra-ên và Giu-đa bị làm phu tù tại xứ A-sy-ri và Ba-by-lôn là kết quả của sự răn dạy nầy (Phục 28:63-68).
Giê 14:1.– Ý nghĩa về tai nạn hạn hán lúc đó rất quan trọng. Ấy là một dấu được nói trước trong lời giao ước Pha-lê-tin (Phục 28:23, 24), và một phần đã được ứng nghiệm trong đời vua A-háp (ICác 17:1 v.v…). Dầu sau dấu hiệu đó một thời gian lâu, nước Y-sơ-ra-ên bị bắt làm phu tù bởi người A-si-ri, đây là một sự răn dạy quan trọng cho nước Giu-đa.
Giê 15:11.– Giê-rê-mi đứng thay mặt dân còn sót lại, là dân khác hẳn với phần nhiều số dân không tin trong dân sự. Vì đã phạm tội, dân còn sót lại sẽ phải chịu sự phu tù hầu đến (15:13), những khi Chúa đoán phạt dân sự, thì ấy chỉ là để sửa dạy dân còn sót lại đó được tinh sạch, và lãnh một lời hứa riêng (15:11). Câu 15-18 là dân còn sót lại đáp lời câu 11-14. Còn hai điểm nổi bật của dân sót lại tin Chúa, đó là trung tín với Chúa, và biệt riêng mình ra khỏi kẻ nhạo báng lời đó (15:16, 17 so Khải 3:8-10).
Giê 16:1.– từ 16:1 đến 17:18 giải nghĩa về việc tiên tri không lấy vợ. Đó là vì cả xã hội nước Giu-đa sắp bị lật đổ và bị cất khỏi xứ. Nhưng nên chú ý lời hứa 16:14-16; Giê 17:7, 8.
Giê 18:1.– Cả hai nước Y-sơ-ra-ên giống như một bình hư trong tay người thợ gốm, đó là chìa khóa để giải nghĩa tiên tri nầy. Song Chúa “lấy mà nắn cái bình khác, tùy ý Ngài muốn làm” (18:4).
Giê 23:3.– Mấy câu trong 30:3-10 tỏ ra lúc cuối cùng Chúa sẽ đem dân bị phu tù về bằng mọi cách, sau khi họ đã chịu tai nạn không xiết kể, có can thiệp với sự hiện đến của Nhánh Công bình nhà Đa-vít (23:5), cũng gọi là Giê-hô-va-Tsidkenu (23:6). Sự Chúa đem dân bị phu tù về nầy, không nên lẫn lộn với một số ít dân Giu-đa còn sót lại trở về trong xứ E-xơ-ra, Nê-hê-mi, và Xô-rô-ba-bên hết 70 năm (Giê 29:10). Khi Đấng Christ, Nhánh Công bình nhà Đa-vít giáng sanh (Lu 1:31-33), Ngài chưa “làm sự chánh trực công bình trên đất (23:5); Trái lại phải đội mão gai trên đầu, và bị đóng đinh trên thập tự. Quốc dân Y-sơ-ra-ên cũng chưa được lập lại, hay xưng là: Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta” (so Rô 10:3). Lời tiên tri nầy còn phải được ứng nghiệm (Công 15:14-17).
Giê 25:11.– So Lê 26:33-35; IISử 36:21; Đa-ni-ên 9:2. Có thể kể 70 năm bắt đầu từ lúc dân nước Giu-đa bị đày qua Ba-by-lôn lần thứ nhứt (IICác 24:10-15), theo thánh điển Éponym A-sy-ri ấy là 604 T.C., hoặc theo Ussher ấy là 606 T.C., hay là lần bị đày cuối cùng (IICác 25:1-; IISử 36:17-20; Giê 39:8-10), ấy là theo Éponym 586 T.C. hoặc theo Ussher ấy là 588 T.C.. Nếu theo ý thứ nhứt trong khoảng 70 năm nối đến 534 T.C. (Éponym) hoặc 536 T.C. (Ussher), khi vua Si-ru ra sắc chỉ cho dân về xứ mình (Exơ 1:1-3). Nếu theo ý thứ hai, mãn 70 năm, là 516 T.C. (Éponym), lúc cất xong đền lại. Xét sách Đa-ni-ên 9:25, dường như ý thứ hai đúng hơn.
Giê 25:29.– Lời tiên tri quan trọng nầy không phải chỉ về sự xâm chiếm của Nê-bu-cát-nết-sa mà thôi. Nếu Đức Giê-hô-va đã không tiếc thành riêng của Ngài, thì các dân ngoại bang cũng không có cơ hội thoát khỏi sự đoán phạt. Lời tiên tri nầy chỉ về sự cuối cùng của thời đại nầy. (Xem Ês 2:10-22; Khải 19:11-21; 16:14).
Giê 30:1. Có lẽ Giê-rê-mi chép các đoạn 30:26:1-, không theo thứ tự năm tháng nào. Vì có mấy lần ông nói đến niên hiệu (như trong 32:1; 33:1; 34:1, 8; 35:1) song chỉ về việc đã qua rồi. Giê-rê-mi lại bắt đầu bài ký thuật với 37:1. Mấy đoạn 33:1–36:1- nầy tóm tắt lại lời tiên tri về quốc dân Y-sơ-ra-ên, nhứt là có quan hệ với các ngày sau rốt, là ngày của Chúa, và với thời đại của Chúa theo sau. Nhưng những lời tiên tri đó cũng lẫn lộn với lịch sử và thời đại của Giê-rê-mi.
Giê 30:2.– Ta nên phân biệt ba “văn thư” mà Giê-rê-mi chép:
1. 30:1-31:40 là lời tiên tri nói cách chung, có lẽ nói sớm hơn hết.
2. 1:1-36:23 là “văn thư” mà Giê-hô-gia-kim đã đốt đi.
3. Các sách bị đốt đi đã chép lại (36:27), chắc là sách chúng ta đang dùng.
Giê 32:9.– Đám ruộng đó đương bị đạo binh Ba-by-lôn chiếm cứ; dầu vậy Giê-rê-mi mua để:
1. Làm dấu chứng rằng Giê-rê-mi tin chắc lời tiên tri mình nói về dân Giu-đa được về, sẽ được ứng nghiệm (32:15);
2. Làm dấu chỉ cho dân Giu-đa biết mình sẽ được về.
Giê 37:11.– có kể ra năm biến cố mà Giê-rê-mi từng trải khi bị tù:
1. Giê-rê-mi bị bắt nơi cửa và bị bỏ vào ngục vì lời cáo gian: “Ngươi là kẻ hàng đầu người Canh-đê” (Giê 37:11-15);
2. Giê-rê-mi được tha khỏi ngục nhưng bị ép phải ở trong hành lang của ngục;
3. Giê-rê-mi bị bỏ vào hố của Manh-ki-gia, và bị lút dưới bùn (Giê 38:1-6);
4. Giê-rê-mi lại được tha khỏi ngục bùn và được giữ trong hành lang tù (Giê 38:13-28) cho đến khi thành bị chiếm lấy;
5. Giê-rê-mi bị xiềng, bị Nê-bu-xa-a-đan thị vệ đem khỏi thành, và cuối cùng được thả ra ở Ra-ma (Giê 40:1-4).
Giê 39:7.– Đây khởi sự “các kỳ dân ngoại”; dấu hiệu kỳ đó là thành Giê-ru-sa-lem “bị dân ngoại giày đạp” tức là dân ngoại cầm quyền cai trị. Thật đã có như thế, từ thời Nê-bu-cát-nết-sa cho đến ngày nay. Xem Lu 21:24; Khải 16:14 “Kỳ dân ngoại”.
Giê 46:1.– Nên phân biệt mấy lời tiên tri nghịch cùng các dân ngoại được ứng nghiệm qua hai cách gần và xa. Trong 46:1- sự hiện thấy gần chỉ về nước Ai-cập bị dân Ba-by-lôn xâm chiếm; song 46:27, 28 chỉ xa đến sự đoán phạt các dân ngoại, sau trận Ha-ma-ghê-đôn (Khải 16:14; 19:17) và sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên (xem “Y-sơ-ra-ên” Sáng 12:2, 3; Rô 11:26). Giê 50:4-7 cũng chỉ về những ngày sau rốt đó.