Jehovah. Jéhova (Đấng Tự Hữu, Hằng hữu).
Ba chữ nầy bắt đầu thấy ở Sáng 2:4. Có lẽ lúc đặt tên cho A-đam thì Ngài liền lấy tiếng “Giê-hô-va” mà đặt tên cho mình (Xuất 3:14; Thi 68:4; Ês 42:8; 45:5, 6; Nê 9:6; Giê 33:2). Đấng đã dựng nên, giữ vững và cai trị cả vũ trụ tên gọi là Élohim (số nhiều, và Élôah số một; xem nguyên văn Hê-bơ-rơ Nê 9:17 và IISử 32:15). Đấng lập giao ước với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, Đấng có đủ mọi quyền lực và hy vọng cho tương lai, tên gọi El-Shaddai, tức là Đức Chúa Trời Toàn năng (Sáng 17:1). Nhưng Đấng của sự khải thị và ân điển, cư xử tốt với dân sự Ngài, dẫn dắt và cứu chuộc, là Đấng mà họ thờ phượng, tên gọi Giê-hô-va. Khi so sánh Mal 3:6 chép về Giê-hô-va là Đấng thành tín không hề thay đổi với Hêb 13:8 chép về Chúa không hề thay đổi, thì biết Đức Giê-hô-va là một với Chúa Jêsus. Élohim có thể làm mọi việc Ngài muốn, Giê-hô-va sẽ làm mọi việc Ngài đã hứa.
Tiếng gọi đúng (prononciation) Danh Giê-hô-va nầy đã mất từ xưa, vì người Giu-đa cho Danh đó là rất tôn trọng, nên kiêng, không dám nói đến. Trong bản Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ thường dùng chữ “Đức Chúa Trời” và chữ “Chúa” để thay vào. Coi thêm Đức Chúa Trời và Chúa.
Giê-hô-va Di-rê, nghĩa là Đức Giê-hô-va sẽ sắm sẵn tại đó (Sáng 22:14). Giê-hô-va cờ xí của tôi (Xuất 17:15). Giê-hô-va Sa-lam, nghĩa là Đức Giê-hô-va ban sự bình an (Quan 6:24). Giê-hô-va ở đó, nghĩa là Đức Giê-hô-va hằng ở giữa họ (Êxê 48:35). Giê-hô-va là danh hiệu của Vua làm ra sự công bình, chánh trực (Giê 23:6; 33:16).
Tiến sĩ Scofield có chú thích về Đức Giê-hô-va như sau nầy: Sáng 2:4.–
I. Ý nghĩa đầu nhứt của Giê-hô-va là “Đấng tự hữu” (Xuất 3:14 “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu”) Nhưng “Havah” hoặc “Yahwe” là ngữ căn của Giê-hô-va cũng có nghĩa là “trở nên”, tức là “được người ta quen biết”, có nghĩa chỉ về Ngài là Đấng cứ ngày càng tỏ mình ra. Gồm tóm lại mấy ý nghĩa đó, chúng ta mới được biết ý nghĩa của danh Giê-hô-va. Vậy, Ngài là “Đấng Tự Hữu tỏ mình ra”. Chính danh đó cắt nghĩa về Ngài rộng hơn, vì “Đức Chúa Trời” (El Élah, Élôhim), chỉ về mấy đặc tánh của Chúa như quyền năng v.v…, hơn là chỉ về chính “Ngôi” Ngài.
II. Nên chú ý rằng lần đầu tiên danh Giê-hô-va xuất hiện trong Kinh Thánh, là khi Chúa dựng nên loài người, Đức Chúa Trời (Élohim) đã phán rằng: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta” (Sáng 1:26); nhưng trong Sáng 2:1- nói đến việc loài người phải hành động chức vụ mình mà cai trị muôn vật, ấy là theo lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Giê-hô-va Élohim) phán dạy. Thay đổi danh Ngài như thế; chỉ rõ ràng Đức Chúa Trời nhờ danh Giê-hô-va đó để tỏ ra sự giao thiệp đặc biệt của Ngài đối với loài người. Cả Kinh Thánh chứng thực ý đó.
III. Giê-hô-va là danh đặc biệt và sự cứu chuộc của Ngài. Lúc loài người phạm tội và có cần sự cứu chuộc, ấy là Giê-hô-va Élohim đi tìm tội nhơn (Sáng 3:9-13) lại “lấy da thú kết thành áo dài” mặc lấy cho (Sáng 3:21). Đó là hình bóng tốt đẹp về sự công bình Ngài đã sắm sẵn cho, bởi của lễ (Rô 3:21-22). Khi Chúa cứu chuộc dân của giao ước (Y-sơ-ra-ên) khỏi xứ Ai-cập, ấy là lần thứ nhứt Ngài rõ ràng nhờ danh Giê-hô-va mà tỏ mình ra (Xuất 3:13-17).
Luận về Giê-hô-va là Đấng cứu chuộc, thì hãy dựa vào các đặc tánh Ngài đã hành động trong sự cứu chuộc người có tội. Các đặc tánh ấy là:
a) Ngài là thánh khiết (Lê 11:44, 45; 19:1, 2; 20:26; Ha 1:12, 13).
b) Ngài hình phạt và ghen ghét tội lỗi (Phục 32:35-42; Sáng 6:5-7; Thi 11:4-6; 66:18; Xuất 34:6-7).
c) Ngài yêu thương và cứu chuộc tội nhân cách công bình (Sáng 3:21; 8:20, 21; Xuất 12:12, 13; Lê 16:2, 3; Ês 53:5, 6, 10). Trong Kinh Thánh vẫn dạy ngoài của tế lễ không có sự cứu rỗi của Ngài.
IV. Về việc cứu chuộc loài người, Giê-hô-va có 7 danh kép (Noms composés) tỏ ra Ngài là Đấng cung cấp mọi sự cần dùng của loài người từ khi mới phạm tội cho đến khi cuối cùng. Các danh kép đó là:
a) Giê-hô-va Di-rê: “Đức Giê-hô-va sẽ sắm sẵn” (Sáng 22:13, 14), nghĩa là Ngài sẽ sắm sẵn một của lễ.
b) Giê-hô-va Ra-pha: “Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho người” (Xuất 15:26). Đây chỉ về chữa bịnh thân thể, cũng gồm lại ý sâu nhiệm hơn là chữa bịnh hồn.
c) Giê-hô-va Nissi: “Giê-hô-va cờ xí của tôi” (Xuất 17:8-15). Danh nầy được giải nghĩa bởi thượng hạ văn. Quân thù nghịch là A-ma-léc làm hình bóng về xác thịt; sự tranh đấu ngày đó làm hình bóng về sự tranh đấu của Thánh Linh với xác thịt (Ga 5:17). Sự thắng trận ngày đó hết cả là nhờ Chúa giúp đỡ.
d) Giê-hô-va Sa-lam: “Giê-hô-va là sự bình an của ta”, hay là “Nguyện Giê-hô-va ban sự bình an” (Quan 6:24). Đoạn nầy kể ra và giải thích gần cả chức vụ của Giê-hô-va. Giê-hô-va ghen ghét và đoán phạt tội lỗi (6:1-5) Giê-hô-va yêu thương và cứu chuộc tội nhân (6:7-18), nhưng chỉ nhờ của tế lễ (6:19-21, cũng xem Rô 5:1; Êph 2:14; Cô 1:20).
đ) Giê-hô-va Ra-ah (Rô-hi): “Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi” (Thi 23:1-). Trong Thi 22:1- Giê-hô-va nhờ huyết chảy trên thập tự mà làm nên sự hòa thuận. Trong Thi 23:1- Giê-hô-va chăn giữ chiên Ngài đang ở trong thế gian. Về việc đó, có ba phạm vi:
1. Ngài là Đấng chăn chiên “hiền lành” phó sự sống vì chiên mình (Giăng 10:11), cho nên là “cái cửa”, ai vào sẽ được cứu (Giăng 10:9). Ấy chỉ về Thi 22:1-.
2. Ngài là Đấng chăn chiên “Lớn”, được “đem ra khỏi từ kẻ chết” (Hêb 13:20), để giữ gìn và làm trọn lành chiên Ngài. Ấy chỉ về Thi 23:1-
3. Ngài là Đấng chăn chiên “làm đầu” các kẻ chăn chiên (IIPhi 5:4), mà sẽ đến cách vinh hiển, lấy mão triều thiên để thưởng cho các kẻ chăn chiên trung tín. Ấy chỉ về Thi 24:1-.
e) Giê-hô-va Tsidkenu: “Giê-hô-va là sự công bình của chúng ta” (Giê 23:6). Đây lời tiên tri chỉ về dân Y-sơ-ra-ên sau sẽ về nước mình và trở lại cùng Chúa. Bấy giờ, Y-sơ-ra-ên sẽ xưng Ngài là “Giê-hô-va Tsidkenu” “Giê-hô-va, sự công bình ta”.
g) Giê-hô-va Shammah: “Giê-hô-va ở đó” (Êxê 48:35). Danh nầy chỉ về sự hiện diện luôn của Giê-hô-va với dân Ngài (Xem Xuất 33:14-15; ISử 16:27,33; Thi 16:11;97:5; Mat 28:20; Hêb 13:5).
V. Giê-hô-va cũng là danh đặc biệt của Chúa về việc lập giao ước với Y-sơ-ra-ên (Xuất 19:3; 20:1, 2; Giê 31:31-34).
VI. Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ là Giê-hô-va Élohim) là Danh kép thứ nhứt của Chúa. Danh đó đặc biệt dùng để chỉ mối quan hệ:
1. Về Chúa đối với loài người:
a) Đấng tạo hóa (Sáng 2:7-15);
b) Đấng dạy dỗ cai trị tánh hạnh loài người (Sáng 2:16, 17);
c) Đấng lập các lễ nghi cai trị sự giao thiệp của loài người trên đất (Sáng 2:18-24; 3:16-19; 22-24);
d) Đấng cứu chuộc loài người (Sáng 3:8-15, 21).
2. Về Chúa đối với Y-sơ-ra-ên (Sáng 24:7; 28:13; Xuất 3:15, 18; 4:5; 5:1; v.v…; Phục 1:11, 21; 4:1; 6:3; 12:1 v.v…; Giô 7:13, 19, 20; 10:40, 42; Quan 2:12; ISa 2:30; ICác 1:48; IICác 9:6; 10:31; ISử 22:19; IISử 1:9; Exơ 1:3; Ês 21:17).