Gia-cốp

Jacob. Jacob (Nắm gót hoặc chiếm chỗ).
I. Con sanh đôi của Y-sác và Rê-bê-ca, ra đời sau Ê-sau, khi Y-sác sáu mươi tuổi (Sáng 25:24-26). “Vừa lúc ở trong bụng mẹ, Gia-cốp nắm gót chân anh mình” (Ôs 12:4). Cũng vậy, dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, tức là mỗi tín đồ Đấng Christ, dầu tự mình không có phép hưởng cơ nghiệp, nhưng bởi đức tin được tái sanh bằng Đức Thánh Linh, thì dường như “nắm gót” có vết thương của Đấng Christ chết trên cây thập tự, tức là “Con cả ở giữa nhiều anh em” (Rô 8:29). Bởi thế, vì đã bị rủa sả thay chúng ta, nên Đấng Christ trở nên nguồn phước cho dân Y-sơ-ra-ên thật (So Hêb 12:16-17).
1. Gia-cốp ở với cha tại Ca-na-an.–Gia-cốp có tính vừa giống cha vừa giống mẹ, song khác với Ê-sau lắm! Gia-cốp là người “hiền hòa” và “cứ ở lại trại”, nghĩa là hay làm việc ở nhà và chăn chiên, vì thế nên dễ được mẹ yêu và chiều chuộng hơn (Sáng 25:27). Trái lại, Ê-sau thì “thường giong ruổi nơi đồng ruộng” mà săn bắn, không giúp đỡ việc nhà, thích làm theo ý mình và ít khi ở trong trại.
Sau khi đã mua quyền trưởng nam của anh mình bằng một bữa canh phạn đậu, Gia-cốp theo mưu kế của mẹ để cướp sự chúc phước mà cha mình định dành cho Ê-sau. Vì trước khi hai anh em chưa sanh ra, Chúa đã chỉ rõ: “đứa lớn phải phục đứa nhỏ” (Sáng 25:23; 27:29; Mal 1:3; Rô 9:12). Vì hay dùng phương pháp xấu để đạt tới mục đích tốt, Gia-cốp cả đời phải chịu hậu quả: ông không được ở nhà và không được tôn trọng nữa, song phải trốn đi 20 năm để cứu mạng sống mình; không hưởng gia tài gấp hai, nhưng khi trốn chỉ có một cây gậy trong tay. Khi những tính toán mưu mẹo thất bại cả, và mình ở giữa những sự đau khổ, ân điển của Chúa mới bắt đầu có thể hành động trong ông và cho ông. Nếu Gia-cốp có đức tin mà đợi chờ thời điểm và đường lối của Chúa, không theo tánh xác thịt mà lừa dối cha, chắc Chúa đã phá ý định sai lầm của Y-sác, và Gia-cốp cũng lãnh phước được, khỏi chịu sự sửa phạt.
Xét bản tánh của Gia-cốp, dầu vốn hiền hòa và khôn khéo, song khi gặp sự nguy hiểm bởi Ê-sau, sự tham lam của La-ban, và sự bất phục của các con mình, vì có tánh nhút nhát nên sanh ra nhiều sự giả dối và tham lam (Sáng 31:15, 42; 34:5, 30; 43:6, 11, 12). Nhưng ở Gia-cốp có một tánh rất tốt, rất quí, là vẫn cứ tin cậy nơi Chúa hằng sống. Đức tin đó làm cho Gia-cốp “ước ao được sự ban cho lớn hơn hết”, dầu tư cách không được xứng đáng là vì:
1) Mua quyền trưởng nam của Ê-sau bằng một bữa canh phạn đậu;
2) Lợi dụng sự yếu mềm của Ê-sau khi bị đói để giành quyền lợi;
3) Dùng mưu chước quỷ quyệt.
2. Gia-cốp trốn sang xứ Pha-đan A-ram.–Khi Gia-cốp được mẹ chỉ cho cách đi tránh Ê-sau, và cha sai đi tìm vợ ở xứ Pha-đan A-ram cách xa nhà độ 800 cây số, Chúa hiện đến cùng Gia-cốp lần thứ nhứt tại Bê-tên. Trong khi nằm chiêm bao, Gia-cốp thấy “Một cái thang bắt từ dưới đất lên trên trời và các thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên thang đó”. Phải chú ý không phải “xuống lên” nhưng là “lên xuống”, vì đất là nơi hoạt động của các thiên sứ. Điều này muốn chỉ bóng rằng Chúa hay sắp đặt mọi sự và ban ơn để cho dân Ngài được ích lợi bởi việc làm của các thiên sứ (Sáng 28:1-; Hêb 1:14). Khi lương tâm làm cho Gia-cốp hiểu sự trốn tránh là sự hình phạt công bình về tội giả dối, thì Chúa lấy lời hứa của ân Ngài mà yên ủi ông (Sáng 28:15 chép lời Ngài hứa so với 28:20, 21 lời khẩn của Gia-cốp). Truyện nầy cũng làm hình bóng về Đấng Christ: vì bởi Ngài cửa trời mở ra và nối liền với đất, còn các thiên sứ thì trước hầu việc Ngài, về sau là hầu việc dân sự Ngài nữa (Giăng 14:6; Khải 4:1; Công 7:56; Hêb 9:8; 10:19, 20). Gia-cốp vì dối trá mà thấy Chúa nơi đầu thang. Còn Na-tha-na-ên, “một người Y-sơ-ra-ên thật… không có điều chi dối trá hết”, thấy Chúa nơi chân thang nghĩa là trên đất nầy, là bước cần nhất để lên nơi vinh hiển (Giăng 1:51; Phil 2:5-11).
Gia-cốp thức giấc, nhận biết thật đã gặp Chúa ở đó, liền lấy hòn đá đã dùng gối đầu để làm cây trụ, đổ dầu lên trên, đặt tên nơi đó là Bê-tên. Đoạn khấn rằng: Nếu Chúa làm trọn lời hứa Ngài thì Ngài sẽ là Đức Chúa Trời mình, và Gia-cốp “sẽ nộp cho Ngài một phần mười mọi của cải mà Ngài cho”. Ông không đợi giàu, nhưng lúc còn nghèo đã bắt đầu nộp phần mười cho Chúa; điều này đáng làm gương cho ta (Sáng 28:16-22 so với 32:10).
Kế đó, vì không hề có gì để làm sính lễ theo tục lệ cưới vợ phương đông (Sáng 24:53), nên Gia-cốp phải làm việc hết 7 năm với cậu mình là La-ban để được cưới Ra-chên làm vợ. Song La-ban là người tham lam giả dối, bèn đem Lê-a thay cho Ra-chên để làm vợ của Gia-cốp (Sáng 29:25); ấy là sự sửa phạt tội Gia-cốp đã lừa dối cha mình! Sau 7 ngày, Gia-cốp mới được La-ban cho cưới Ra-chên làm vợ, song phải làm việc thêm 7 năm nữa (Sáng 29:27-30). Đó chỉ là lần thứ nhất trong mười lần La-ban thay đổi công giá (Sáng 31:7, 41)!
Trong khoảng thời gian nầy, phần nhiều con trai, con gái của Gia-cốp đã được sanh ra (Sáng 37:35); nhưng đi về xứ Ca-na-an với ông thì chỉ có tên của một người con gái là Đi-na (30:21); có lẽ vì sau đó có chuyện xấu xảy ra với nàng (34:31). Bốn con của Lê-a sanh trước cho Gia-cốp là: Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi và Giu-đa. Về sau Bi-la và Xinh-ba, là hai nàng hầu của vợ ông cũng sanh con cho ông: Đó là Đan và Nép-ta-li – con của Bi-la, là Gát và A-se con của Xinh-ba (Sáng 35:25, 26). Về sau Lê-a sanh hai con trai nữa là Y-sa-ca và Sa-bu-lôn. Gia-cốp rất yêu Ra-chên, nên ông cũng yêu thương các con của mình.
Gia-cốp lấy hai vợ như thế, cũng trái với ý của Đấng Tạo hóa (Sáng 2:23-24; Mat 19:5). Gia-cốp chỉ định lấy Ra-chên, song vì cớ ông La-ban đánh tráo Lê-a, nên Gia-cốp phải chịu. Hai người vợ lại hiến hai nàng hầu cho Gia-cốp để được nhiều dòng dõi. Ấy là thời kỳ ngu muội, Chúa bỏ qua, nhưng khi Chúa Jêsus giáng thế, Ngài có bày tỏ nguyên ý của Đức Chúa Trời. Vậy, không ai có phép lấy hơn một vợ, một chồng, khi vợ hoặc chồng đang còn sống (Mat 19:9; Rô 7:2).
Gia-cốp làm trong sáu năm nữa để được tiền công. La-ban dùng hết cách để hạn chế tiền công, thậm chí thay đổi mười lần công giá. Song Gia-cốp tìm cách lừa gạt lại: người lấy những nhành bồ đào và những nhành bá tiên tươi, lột vỏ để trong máng nước, trước mặt những con chiên mập mạnh, cho chúng giao hiệp khi uống nước. Song chỉ làm thế trong mùa hạ, chớ không làm trong mùa thu, vì chiên con sanh mùa xuân thì khỏe hơn. Rốt cuộc, bầy chiên sanh con có sọc, có rằn và có đốm. Gia-cốp để riêng những con đó ra cho mình, còn để những con gầy ốm tự nhiên sanh không có rằn, không có đốm thuộc về La-ban. Vậy người trở nên rất giàu, có nhiều bầy súc vật, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa (Sáng 30:37-43). Gia-cốp lấy chiêm bao đã thấy trước sáu năm đó để cắt nghĩa cho hai vợ biết vì cớ nào được thạnh vượng (31:10). Hết sáu năm, trong một chiêm bao khác, Chúa bảo Gia-cốp phải về quê hương (31:11-13). Trong chiêm bao đó, Chúa cắt nghĩa về sự thành công của Gia-cốp, ấy là vì Chúa “đã thấy cách La-ban ăn ở cùng Gia-cốp” (31:12). Cạnh đó, Chúa có quở trách và răn dạy La-ban (31:5-13, 24, 29, 42).
3. Gia-cốp về xứ Ca-na-an.–Gia-cốp “vì mong mỏi về nhà cha” và vì Chúa bảo, đã dẫn vợ con và hết thảy súc vật, cả của cải mình, bỏ Cha-ran để về quê hương (31:14-18). La-ban bực bội vì Gia-cốp gạt mình, ba ngày sau khi Gia-cốp đi La-ban mới biết vì Gia-cốp không nói mà trốn đi (31:20, 22). Chẳng may cho Gia-cốp, vì Ra-chên ăn cắp pho tượng thờ trong nhà cha mình nên La-ban mượn cớ đó để đem anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong 7 ngày đường và theo kịp tại núi Ga-la-át. Chắc La-ban có ý hà hiếp, song trong chiêm bao, nghe tiếng của Đức Chúa Trời mà Gia-cốp thờ, cấm mình đừng nói gì. Đến khi đã khám xét và không thấy gì, thì Gia-cốp và La-ban lập ước với nhau, chất một đống đá ở nơi đó mà đặt tên mới là Mích-ba, mà làm chứng: “Khi chúng ta xa cách nhau, nguyện Chúa coi sóc ở giữa chúng ta” (31:49).
Truyện đặc biệt nhứt về những sự từng trải thuộc linh của Gia-cốp, là khi Gia-cốp vật lộn với Thiên sứ Chúa mặc lấy hình người, tại núi Phê-ni-ên (nghĩa là đối mặt với Chúa), cho đến lúc rạng đông, để nhận một phước lành (so Lu 6:12). Bởi “quyền nơi Đức Chúa Trời, Gia-cốp có quyền hơn Thiên sứ và được thắng, khóc lóc và khẩn cầu Ngài” (Ôs 12:4, 5). Như vậy, ông được Chúa đổi tên mới là Y-sơ-ra-ên, và làm gương cho các tín đồ (Mat 11:12; 15:22; Khải 3:21; Lu 13:24). “Sức lực của ông là biết mình “yếu đuối”: khi đùi bị trật xương và không còn sức lực vật lộn nữa, thì ông mới thật nắm lấy Chúa. Cũng vậy, về phần tín đồ, khi yếu đuối, ấy là lúc mạnh mẽ (Gióp 23:6; Ês 27:5; 40:29-31; IICôr 12:9-10). “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi” là bài cầu nguyện làm kiểu mẫu (Sáng 32:26). “Khóc lóc và khẩn cầu” là hai khí giới của Gia-cốp giống như Đấng Mê-si (Hêb 5:7). Vì trước ông đã thấy hai trại quân thiên sứ hai bên mình, nên Gia-cốp mới sẵn sàng gặp Chúa của các vị đó. Vậy, “Chớ sợ, những người ở cùng chúng ta (tín đồ) đông hơn những người ở với kẻ thù nghịch” (IICác 6:16-17). Vật lộn cùng Chúa trước thì sau mới có thể thắng trận cùng ma quỉ (Êph 6:12).
Vậy, khi biết Ê-sau đi đón đường, Gia-cốp giống như Đa-vít: Trong ngày sợ hãi tôi sẽ để lòng nhờ cậy Chúa” (Thi 56:3, 4; ISa 30:6). Trong bài cầu nguyện với Chúa (Sáng 32:9-12) Gia-cốp dựa vào những lý do sau: thứ nhứt nhờ giao ước Chúa lập với tổ phụ, thứ nhì nhờ lời phán và lời hứa (31:3, 13); thứ ba, nhờ sự không xứng đáng của mình (32:10; so 28:20-22); thứ tư, chính lời xin: “Xin giải cứu tôi khỏi tay Ê-sau”, như thế Chúa thương xót những kẻ không ai giúp đỡ, mà nhắc lại lời hứa trước của Chúa (32:11, 12). Dầu vậy, Gia-cốp dâng lễ vật cho Ê-sau cách khôn khéo để làm hòa (32:16; so Mat 5:25). Hai anh em không gặp nhau nữa cho đến lúc chôn cha tại Hếp-rôn (35:29).
Sau đó ông tự xét lòng mình trước mặt Chúa để lấy lại đức tin mình đã đánh mất bởi sự giả dối, thì Gia-cốp mới xứng đáng về xứ Ca-na-an mà đứng vững trên lời giao ước của Ngài. Gia-cốp học biết cần sợ Chúa hơn sợ người (Mat 10:28). Sau Gia-cốp đến Su-cốt, ở đó ít lâu, thì qua sông Giô-đanh, “đến thành Si-chem thuộc xứ Ca-na-an được bình an”. Trong cả xứ Ca-na-an, ông chỉ mua đất ở Si-chem mà thôi. Ông đóng trại ở tại Si-chem, miền trung ương xứ Ca-na-an, chắc để độc lập và tránh khỏi Ê-sau chớ không ở với cha tại phía nam Bê-e-sê-ba.
Dầu ở Si-chem, Gia-cốp lập một bàn thờ đặt tên là Ên-ên-ô-hê Y-sơ-ra-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời là Chúa của Y-sơ-ra-ên, song ở đó, vì cớ giao thông với các dân ngoại, Gia-cốp kém sút về phần đạo đức. Hoàng tử xứ đó lăng nhục nàng Đi-na, nên Si-mê-ôn và Lê-vi báo thù cách hung dữ (34:1- và 49:5, 6); bấy giờ, Chúa chỉ cho ông biết nên có một cơn phục hưng, bảo ông phải đến Bê-tên, lập bàn thờ cho Chúa. Gia-cốp vâng lời, bảo gia đình phải bỏ các tượng thần ngoại bang (như Thê-ra-phim mà Ra-chên đã ăn cắp, v.v…), làm cho mình thánh sạch. Gia-cốp làm trọn lời thề trước mặt Chúa: lấy “hòn đá đã dựng làm trụ” ở Bê-tên xây đền thờ cho Chúa (28:22). Khi ông đã được hòa thuận với Chúa như thế, thì “sự sợ hãi của Chúa giáng trên những thành chung quanh” (35:5 so Giô 2:9), đến nỗi họ không dám báo thù nữa. Đến Ên-bê-tên (Đức Chúa Trời của Bê-tên) sau 40 năm lưu lạc, trong một sự hiện thấy, Chúa đặt lại tên ông không phải là Gia-cốp nữa, nhưng chắc chắn là Y-sơ-ra-ên, và phán lời hứa: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn năng (El Shaddai), ngươi hãy sanh sản thêm nhiều; một dân cho đến nhiều dân đều sẽ do ngươi sanh ra, cùng các vua sẽ do nơi mình ngươi mà ra. Xứ ta đã cho Áp-ra-ham và Y-sác ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi nhà ngươi”. Sau đó Gia-cốp dâng lễ quán và tưới dầu vào. Đoạn, Gia-cốp đặt tên nơi Đức Chúa Trời đã phán cùng mình là Bê-tên (35:11-15). Kế đến, Ra-chên sanh một con trai đặt tên là Bê-nô-ni (nghĩa là con trai của sự đau đớn tôi), và qua đời, còn cha nó đặt tên là Bên-gia-min (nghĩa là con trai tay hữu) (35:16-20).
4. Gia-cốp xuống xứ Ai-cập.–Gia-cốp mất Giô-sép là sự thử thách nặng nề hơn hết, vì trước đã lừa gạt cha mình là Y-sác, nay lại bị các con của mình lừa gạt lại. Một đặc tánh của Gia-cốp là hay hết lòng yêu vợ con mình (Sáng 37:33-35; 42:36; 45:28). Bởi sự hiện thấy ở Bê-e-sê-ba (46:1-), Chúa yên ủi và bảo Gia-cốp xuống Ai-cập, xứ mà trước Chúa đã cấm Y-sác đến (26:2). Ấy là hết phần thứ nhứt của giao ước, và bắt đầu phần thứ nhì của giao ước Chúa với Y-sơ-ra-ên. Khi bỏ sứ Ca-na-an, Y-sơ-ra-ên chỉ là một gia đình, song khi về đã trở nên một dân tộc. Sự mở mang nầy là nhờ dân Y-sơ-ra-ên tiếp thu được ở xứ Ai-cập nền văn minh, mỹ thuật và khoa học, nên xứ Ai-cập là nơi đúng với ý Chúa để dạy dỗ dân Y-sơ-ra-ên trong phần thứ nhì của sử ký mình. Gia-cốp và gia đình xuống Ai-cập cả thảy là 70 người (Xuất 1:5), hay là theo bản Septate mà Ê-tiên đã nói đến là 75 người (ISử 7:14), kể cả con Giô-sép và các cháu nội. Trong số 70, chỉ có một người con gái không chồng là Đi-na và cháu nội; và theo tục lệ của người Hê-bơ-rơ thì kể cả mấy con còn “ở trong lòng tổ phụ”. Lúc đó, Bên-gia-min chỉ 24 tuổi, chắc mười con trai sau của ông sanh tại xứ Ai-cập. Hai con Pha-rê và hai cháu A-se cũng vậy. Trong gia phổ, những tên đó là người đứng đầu hàng chi phái và họ hàng (46:8-27).
Đến năm 130 tuổi, Gia-cốp ở xứ Ai-cập chúc phước cho Pha-ra-ôn, làm chứng rằng đời sống mình là một cuộc “phiêu lưu, …” “ngắn ngủi và nhọc nhằn” (47:7-10; Hêb 11:9, 13). Bảng kê những sự đau đớn của Gia-cốp phải chịu vì cớ sự giả dối:
1) Bởi Ê-sau;
2) Bởi La-ban;
3) Bởi thiên sứ đánh trật xương đùi;
4) Bởi nàng Đi-na bị hà hiếp và sự hung dữ của Si-mê-ôn và Lê-vi;
5) Mất Giô-sép;
6) Si-mê-ôn bị bắt;
7) Bên-gia-min vắng mặt;
8) Ra-chên qua đời;
9) Ru-bên phạm tội loạn dâm.
Mọi sự đau đớn đó dường như nghịch cùng ông, song vì cớ có Chúa ở cùng, thì lại là điều ích lợi cho ông (Rô 8:28, 31, 37; Sáng 42:36).
5. Gia-cốp qua đời.– Sự cao trọng và sự sâu nhiệm thật được tỏ ra khi Gia-cốp gần qua đời. Cũng như bài di chúc ông làm chứng Đức Chúa Trời của tổ phụ đã chăn nuôi mình từ khi mới lọt lòng mẹ cho đến ngày đó, và thiên sứ đã cứu mình ra khỏi vòng hoạn nạn (48:15-16). Ông chúc phước cho con của Giô-sép cũng là một việc bởi đức tin, và “nương trên cây gậy mà lạy” (Hêb 11:21). Gậy ở đây chỉ về tâm thần “phiêu lưu” của ông đi tìm kiếm thành ở trên trời (32:10). Bởi đức tin, ông được biết trước về bản tánh và số phận của Ép-ra-im và Ma-na-se (48:19) với các con khác nữa. Ông nói trước mọi điều như trong thì hiện tại (xem 48:22). Trong 49:2-27 lời tiên tri về các con cái được gọi là một bài phước lành, vì dầu có một phần án phạt nhưng toàn thể là một giao ước ban phước, chỉ có sự thay đổi theo tánh nết thôi. Lời tiên tri về Đấng Si-lô (Mê-si) sẽ đến có nói trong bài chúc phước cho Giu-đa (49:10), khiến cho tiên tri đó được tỏ rõ hơn, vì trước kia chỉ nói Đấng đó từ Áp-ra-ham và Y-sác, bây giờ thì nói từ Giu-đa mà ra. Gia-cốp bắt Giô-sép thề sẽ chôn mình ở xứ Ca-na-an (47:29-30), tỏ ra ông tin chắc chắn Chúa sẽ cho dòng dõi mình xứ đó. Thơ Hê-bơ-rơ bỏ lời chúc phước cuối cùng của Gia-cốp cho 12 con cái, vì trước giả “chỉ hái hoa và để lại cả vườn cho độc giả”.
Đến 147 tuổi, Gia-cốp qua đời, người ta dùng thuốc thơm xông xác người và chôn một cách long trọng nơi hang đá tại đồng ruộng Ếp-rôn với tổ phụ mình (49:29-33; 50:1-6).
Bí quyết của đời sống thật của ông được tóm lại trong 49:18:1-
“Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi trông ơn chửng cứu của Ngài!”
Tiến sĩ Scofield có luận về Gia-cốp (Sáng 29:1) rằng: Cuộc đời Gia-cốp tại Cha-ran, nếu không phải là hình bóng thì có lẽ làm một thí dụ rõ ràng về dân tộc sanh ra từ ông, trong thời đại hôm nay bị tan lạc. Giống lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, Gia-cốp ở Cha-ran đã:
1) Lãnh ơn phước trong xứ của mình (Sáng 26:3);
2) Không có bàn thờ (Ôs 2:4, 5);
3) Mang tiếng xấu (Sáng 31:1; Rô 2:17-24).
4) Song có Chúa săn sóc theo lời giao ước (Sáng 28:13, 14; Rô 11:1, 25-30);
5) Cuối cùng trở về (Sáng 31:3; 35:1-4; Êxê 37:21-23).
Sự dạy dỗ riêng thật rõ: dầu Chúa không bỏ Gia-cốp, song Chúa phải để cho ông gặt lấy sự xấu hổ và sự phiền não vì ông đi theo đường riêng.
Tiến sĩ Scofield cũng tóm tắt lại lịch sử của Gia-cốp (Sáng 49:28) rằng: Gia-cốp đến cuối đời được yên ổn và phước lành, làm chứng về quyền của Đức Chúa Trời có thể đổi mới được bản tánh của người ta. Sự tiến bộ thuộc linh của ông có 6 bậc đáng ghi nhớ:
(1) Học tập đức tin lần thứ nhứt là khi mua quyền trưởng nam (Sáng 25:28-34; 27:10-22);
(2) Sự hiện thấy ở Bê-tên (Sáng 28:10-19);
(3) Bước đi theo tánh xác thịt (Sáng 29:1-31:55);
(4) Từng trải sự đổi mới (Sáng 32:24-31);
(5) Trở về Bê-tên; bỏ hình tượng (Sáng 35:1-7);
(6) Bước đi theo đức tin (Sáng 37:1-49:33).
II. Cha của Giô-sép, chồng bà Ma-ri, cũng gọi là Gia-cốp (Mat 1:15).

Lên đầu trang