Gia-cơ, Thơ

Letter of James. Épitre de Saint Jacques. Tác giả tự xưng mình là Gia-cơ, tôi tớ của Đức Chúa Trời, song không nói rõ mình là Gia-cơ nào. Nhiều người nhận Gia-cơ nầy là anh em của Chúa: vì nếu thơ nầy do Gia-cơ khác viết, thì tất phải có sự khác biệt rõ ràng với Gia-cơ rất nổi tiếng. Mà ở đây tác giả chỉ nói thẳng tên mình, chính là tỏ ý khiêm nhường không muốn chú trọng về mặt có tình thân theo xác thịt với Đức Chúa Jêsus để khỏi mang tiếng mình cậy quyền thế. Độc giả nên chú ý điều nầy dễ biết lắm: thơ Gia-cơ giống ý giảng dạy của Gia-cơ ở Công 15. Có lẽ thơ nầy chép độ 45 năm S.C. I. Sự quan hệ giữa thơ Gia-cơ và các sách khác trong Tân Ước.–Có nhiều thuyết cắt nghĩa về bao nhiêu chỗ trong thơ rất giống với các thơ khác:
1. Chỗ rất cốt yếu là thơ nầy quan hệ với thơ Phao-lô. Những chỗ giống với thơ La-mã như: Nghe luật pháp thì nên làm theo luật pháp (Gia 1:22; 4:11; Rô 3:13); nên coi sự thử thách là có ích lợi (Gia 1:2-4; Rô 5:3-5); ai đoán xét người ta, nấy sẽ bị đoán xét lại (Gia 4:11; Rô 2:1; 14:4); sự tranh cạnh trong chi thể (Gia 4:1; Rô 7:23). Nhưng xét lại Gia 2:17, 21-24, và Rô 3:28; 4:1-; và Ga 2:16, thì thấy Gia-cơ và Phao-lô đều trưng dẫn Sáng 15:6 là chứng cớ; lại lấy việc Áp-ra-ham để tự bày tỏ mình. Nhưng đến lời kết thì dường như trái nhau: Gia-cơ nói người ta được xưng công bình là bởi việc làm chớ không phải bởi đức tin; còn Phao-lô nói người ta được xưng công bình là bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm. Thoạt nghe thì dường như mâu thuẫn với nhau, nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì thấy nó đồng nhất với nhau. – Chữ “tin” của Gia-cơ là trong lòng người ta tin có Đức Chúa Trời độc nhất (Gia 2:19). Đó là lời mở đầu trong tin kính của người Do-thái. Lại tin rằng Đấng Christ vì mình mà đến. Còn chữ “tin” của Phao-lô là tin cậy vào Đấng Christ (Rô 3:22, 26). Trong bước từng trải của Phao-lô, sự tin đó có đủ năng lực rất lớn, làm thay đổi được các bản chất của mình, và chính ông đã mặc lấy Đấng Christ, cùng chết, cùng sống lại với Ngài. Nhưng Gia-cơ thì không thế: ông là người lần lần tin theo Chúa và lần lần sửa đổi việc làm. Vì vậy, ông cho rằng việc làm là chứng cớ độc nhất của đức tin chân thật.
2. Những chỗ trong Gia-cơ giống các thơ tín khác, như: Người đời như hoa cỏ (Gia 1:10; IIPhi 1:24), lòng yêu thương che đậy vô số tội lỗi (Gia 5:20; IIPhi 4:8); kỵ nữ Ra-háp tiếp rước sứ giả (Gia 2:25; Hêb 11:31).
3. Những chỗ thơ Gia-cơ giống các sách Tin lành, tựu trung ở một chỗ quan trọng là giống như bài giảng của Chúa ở trên núi. Ta thấy như: Trách cứ miệng lưỡi thế gian (Gia 5:12; Mat 5:34-37); ruồng trách kẻ chỉ nghe đạo mà không làm theo (Gia 1:22, 25; Mat 7:26; Giăng 13:17) Ruồng trách kẻ đoán xét người khác (Gia 4:11; Mat 7:1-6); Ruồng trách kẻ theo thế gian (Gia 1:10; 2:5; Mat 6:19, 24; Lu 6:24); luận về cầu nguyện (Gia 1:5; Mat 7:7); luận về nghèo khó (Gia 2:5; Lu 6:20); luận về khiêm nhường (Gia 4:10; Mat 23:12); luận về cây và trái (Gia 3:12; Mat 7:16).
Tác giả phải cùng ở với Chúa từ bé, hằng nghe Ngài dạy dỗ, nên mới quen thuộc lời Ngài như vậy.
II. Thơ Gia-cơ đề ra những lề lối của đạo Đấng Christ.–Trong thơ ít chỗ nói thẳng về đạo Đấng Christ, chỉ có hai chỗ xưng tên Đấng Christ (Gia 1:1; 2:1), nhưng cũng không có lời nào nói về sự chết, sự sống lại, hay về gương tốt của Ngài. Chỉ đề cập đến nào là sự nhịn nhục (Gia 5:10, 11; IIPhi 2:21), nào là cầu nguyện (Gia 5:17; Hêb 5:7). Vì vậy, có người cho rằng thơ nầy là sách của Giu-đa rồi bị người tin đạo Đấng Christ thay đổi lại. Song xét kỹ thơ nầy thì biết những ý nói về đạo Đấng Christ thật cũng không phải là ít, ví dụ như nói “anh em yêu dấu” (Gia 1:16, 19; 2:5), “sanh chúng ta” (Gia 1:18), “Nước Ngài” (Gia 2:5), “phạm thượng đến danh tốt” (Gia 2:7), “luật pháp về sự tự do” (Gia 1:25; 2:8), “nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến” (Gia 5:7-8). Đó là tâm tư riêng của đạo Đấng Christ vậy. Tuy vậy, đại ý của thơ Gia-cơ phần nhiều mượn thuyết từ người Do-thái mà đề ra lề lối về đạo Chúa; đó vì thơ nầy viết nhằm lúc giáo hội đạo Do-thái mới tổ chức. Những từ như “nơi hội” (Gia 2:2), “các trưởng lão Hội Thánh” (Gia 5:14), “xức dầu” (Gia 5:14) và mối quan hệ giữa bịnh tật và tội lỗi (Gia 5:15), và xưng là “Chúa các cơ binh” (Gia 5:4), đều xứng hiệp với tánh tình Gia-cơ và lời chúc bình an cho mười hai chi phái ở tản lạc (Gia 1:1). Vì Gia-cơ đến cuối cùng vẫn là người Do-thái hẳn hoi, nổi tiếng trong số người giữ luật pháp (Công 21:20).
III. Cách hành văn và ý dạy dỗ của thơ Gia-cơ.–Dẫn chứng trong thơ phần nhiều lấy ở Cựu Ước. Như giọng nói có vẻ oai nghiêm của Châm Ngôn và các sách tiên tri bảo thế gian là bọn tà dâm (Gia 4:4). Hay khi Cựu Ước xưng Y-sơ-ra-ên là Tân phụ của Đức Giê-hô-va và gọi kẻ bội nghịch là dâm phụ. Xuyên suốt thơ là sự răn dạy và quở trách, cũng thường bắt chước Chúa Jêsus dùng nhiều sự vật mà làm ví dụ, lại thường viết theo lối thi ca (Gia 1:17). Câu văn có khi dàn trải ý rõ ràng, có khi ngắt câu đột ngột. Nhưng cũng có chỗ ý không rõ ràng và có rất nhiều chữ đặc biệt. Trong thơ có 70 chữ mà các chỗ khác trong Tân Ước không có. Thứ tự cũng không rành rọt; nên chúng ta muốn chia đoạn, chương, hay đặt đề mục cho thơ này cũng không phải là dễ.
Đề mục trọng yếu được nhắc đến là nỗi nguy hiểm của tiền của, của lời nói, của sự bội nghịch đạo chánh, của sự yêu thế gian, cạnh đó nói đến sự quí báu của lòng tin thật, của sự cầu nguyện, của khôn ngoan. Theo ý chính thơ nầy thì thực hành tốt hơn nói suông. Trong thơ chú trọng về luân lý của Đấng Christ và về tánh tình của kẻ thờ lạy giả thần, mở mắt cho người ta thấy những việc làm hiệp với đạo Chúa, và những hành vi đó tức là đạo Đấng Christ vậy.
IV. Sứ mạng của thơ trong thời đại nầy.–Ngày nay các tín đồ hay nói về sự thánh khiết song lại sống giả hình; hay làm chứng về sự yêu thương trọn vẹn song không ăn ở hòa thuận với nhau, hay nói nhiều về đạo mà không làm ơn cho ai. Gia-cơ chép thơ nầy cho những người như thế. Tuy không yên ủi mấy, song dạy dỗ nhiều! Tín đồ nào chỉ lấy nghe làm đủ, không từ bỏ mình và sút kém sự thờ phượng Chúa, khi nhờ Đức Thánh Linh mà suy xét thơ nầy, sẽ tìm thấy ở trong có phương thuốc chữa bịnh thuộc linh cho mình.
Ngày nay xã hội có nhiều cải cách thật quan trọng. Các tiên tri đời Cựu Ước là người cải cách xã hội; trong Tân Ước, Gia-cơ cũng như thế. Gia-cơ dạy dỗ nhiều về những sự cốt yếu nên thi hành trong xã hội: sự làm phước thật, cách đối đãi của chủ và tôi tớ, và đối với những người lân cận. Nếu cả Hội Thánh một lòng học tập những lẽ cốt yếu chép trong thơ đó, thì có sự phục hưng ngay. Điều này làm chứng rằng tôn giáo Đấng Christ đáng vâng theo và thi hành, vì nó phù hợp với ước ao của những nhà tiền bối khi họ cải cách xã hội, và điều duy nhất để họ có thể thực hiện được là đem lòng thờ Chúa.
Nói về thơ Gia-cơ, Tiến sĩ Scofield có bài như sau:
Tác giả.– Gia-cơ, gọi là “người công nghĩa”, mà Phao-lô nói đến với Sê-pha và Giăng đều là người “được tôn như cột trụ” trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem (Ga 2:9). Về phần thuộc linh, Gia-cơ dường như là một người nghiêm nhặt, sốt sắng theo luật pháp và các nghi lễ của đạo Do-thái (Công 21:18-24).
Niên hiệu.– Theo lời truyền khẩu, Gia-cơ chết vì đạo năm 62 S.C., song trong thơ ông không chép về những sự dạy dỗ mới về Hội Thánh và những lẽ đạo đặc biệt về ân điển được chép bởi Sứ đồ Phao-lô. Cũng không chép về những sự biện luận về sự can thiệp tín đồ ngoại bang với luật pháp Môi-se có biểu quyết tại hội nghị thứ nhứt mà Gia-cơ cai trị (Công 15:1-). Như thế, ta biết thơ nầy chép sớm, chắc là “thơ thứ nhứt chép cho tín đồ Đấng Christ”.
Đại ý.– Bởi “đạt cho mười hai chi phái ở tản lạc” (Gia 1:1), ta hiểu không phải viết cả người Do-thái, song chỉ cho những tín đồ vốn là người Do-thái ở tản lạc. Hội Thánh mới lập có những tín đồ như thế (Công 2:5-11), và Gia-cơ dường như không bỏ Giê-ru-sa-lem mà cứ ở đó, chắc ông thấy mình như Mục sư riêng có trách nhiệm đặc biệt với các con chiên bị tản lạc đó. Các tín đồ nguyên là người Do-thái đó cứ họp lại trong các nhà hội (Synagogue), hay là gọi các hội mình bằng tên đó (Gia 2:2 “hội” nguyên văn Hy-lạp là (Synagogue)). Nhờ Gia 2:1-8, ta thấy tín đồ người Do-thái cứ giữ những tòa công luận để giải quyết những việc bất bình giữa mình. Vậy, thơ nầy rất là sơ lược. Nhưng nếu tưởng Gia 2:14-26 là bài phản đối lẽ đạo của Phao-lô về sự được xưng công bình thì thật vô lý vì khi ấy, hai thơ Ga-la-ti và La-mã chưa chép.
Vậy, đại ý của Gia-cơ là “tôn giáo” (nguyên văn Hy-lạp: Threskeia, “việc bề ngoài của tôn giáo”) để bày tỏ và làm chứng cớ của đức tin. Ông không cho rằng việc làm nghịch với đức tin, song đức tin hay sanh ra việc làm. Lối viết của Gia-cơ giống như những sách viết về sự khôn ngoan trong Cựu Ước.
Có thể chia thơ ra làm năm phần: (1) Thử đức tin, 1:1; 2:26. (2) Bởi cái lưỡi thử đức tin thực hữu, 3:1-18. (3) Quở trách những sự hướng về thế gian, 4:1-17. (4) Răn dạy người giàu, 5:1-6. (5) Lời khuyên, 5:7-20.

Lên đầu trang