Gideon. Gédéon.
(Người chặt cây có nghĩa là người chiến sĩ hay là người chặt hạ thần tượng Ba-anh, Ês 10:33); cũng gọi là Giê-ru-ba-anh (Quan 6:32), hay Giê-ru-bê-sết (IISa 11:21). Con út của Giô-ách họ hàng người A-bi-ê-xê-rết, ở tại Óp-ra. Dầu thuộc về một nhà nghèo (Quan 6:15) nhưng ông trở nên nhà lãnh tụ của chi phái Ma-na-se và quan xét thứ năm rất danh tiếng của Y-sơ-ra-ên.
1. Khi ta biết về Ghê-đê-ôn lần đầu, thì ông đã trưởng thành và có nhiều con (Quan 6:11; Quan 8:20), và bởi tiếng thiên sứ dùng gọi Ghê-đê-ôn (Quan 6:12) ta có thể kết luận rằng trước đó Ghê-đê-ôn đã đánh bại những đoàn trộm cướp hà hiếp dân chúng Y-sơ-ra-ên trong 7 năm. Số đoàn đó không thể đếm được, chúng được ví sánh như những đám cào cào (Quan 6:5), hằng năm chúng ào đến phá hủy mùa màng của dân Ca-na-an; chỉ những người sống trong hang, trong núi hay những nơi kiên cố thì được thoát nạn (Quan 6:2). Hoạn nạn đó xảy ra vì cớ dân Y-sơ-ra-ên bội đạo, không vâng lời Chúa, nên Chúa đã hạ dân đó xuống để sửa dạy họ.
Song dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Chúa khi cùng khốn thì Chúa sai một đấng tiên tri đến, nhắc lại cho họ nhớ những ơn mà Chúa đã ban cho, và bảo họ không nên sợ các tà thần của dân A-mô-rít nữa (Quan 6:7-10).
Về sau thiên sứ của Chúa hiện đến trong khi Ghê-đê-ôn đang kín đáo đập lúa mạch trong bàn ép để tránh khỏi con mắt của những kẻ hà hiếp. Chúa gọi Ghê-đê-ôn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ma-đi-an. Đến lần thứ nhì, thiên sứ Chúa hiện đến cùng Ghê-đê-ôn trong chiêm bao bảo phải bỏ đền thờ Ba-anh, dựng lại đền thờ cho Chúa, lấy củi dâng của lễ thiêu cho Chúa bằng những đồ dùng đã phá thần A-sê-ra (Quan 6:26; Phục 16:21). Như vậy, trong lần hiện đến thứ nhứt, Chúa nhận biết Ghê-đê-ôn; và lần thứ nhì Ghê-đê-ôn phải nhận biết Chúa. Chúa không chịu người ta thờ lạy chung với Ba-anh bao giờ (ICác 18:21; Êxê 20:39).
Ghê-đê-ôn thưa Chúa: “Ôi Chúa! nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi” (Quan 6:13). Có lẽ Ghê-đê-ôn nhắc về lời hứa của Ngài trong Phục 31:17. Vậy, Chúa bảo Ghê-đê-ôn: “Hãy dùng sức mình vẫn có mà đi giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi sao?” (Quan 6:14). Ghê-đê-ôn còn lưỡng lự, song Chúa hứa: “Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy (Quan 6:16). Lời hứa của Chúa sẽ được ứng nghiệm.
Sau khi Ghê-đê-ôn xin Chúa một dấu lạ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va lấy đầu cây gậy mà thiêu bằng lửa từ hòn đá bốc lên, lễ thứ nhứt của Ghê-đê-ôn (Quan 6:21), tức là con dê con và những bánh không men (so sánh sự Chúa hiện ra với Áp-ra-ham Sáng 18:1). Cũng hãy xem và suy nghĩ Chúa nhận của lễ của Ma-nô-a trong Quan 13:20. Ghê-đê-ôn biết ơn Chúa, lập một bàn thờ cho Chúa gọi là Giê-hô-va Sa-lam, có nghĩa là sự bình an của Chúa lại ở cùng dân Y-sơ-ra-ên (Giê 29:11; Giê 33:16). Của lễ thứ hai 6:25 là con bò đực của Giô-ách lên 7 tuổi được Chúa chỉ trong cơn chiêm bao để làm của lễ hiệp với bảy năm dân Y-sơ-ra-ên bị hà hiếp vì cớ sự bội đạo. Ghê-đê-ôn cùng với 10 đầy tớ lật đổ bàn thờ của Ba-anh và A-sê-ra trong ban đêm, ông không dám làm việc đó ban ngày vì sợ bà con và những người trong thành. Khi biết điều này, mọi người bắt Giô-ách phải nộp con trai mình để chịu tội chết, thì Giô-ách khéo léo đáp rằng: “Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao?… Nếu hắn là Thần, cứ để hắn tự binh vực.” (Quan 6:31). Vậy Ghê-đê-ôn được một tên hiệu là Giê-ru-ba-anh. Câu nói “Hãy để chính hắn tự binh vực” có nghĩa là: để Ba-anh hình phạt kẻ đã phá đổ bàn thờ của nó. Và dân Do-thái đổi chữ Ba-anh ra Bê-sết, “Giê-ru-bê-sết” có nghĩa là: “Hãy để chính mình hình tượng xấu hổ ấy tự biện luận lấy”.
2. Ghê-đê-ôn được mặc lấy quyền phép Đức Thánh Linh (ISử 12:18; IISử 24:49; Ês 61:10). Họ hàng của ông là người A-bi-ê-xê-rít, chi phái Nép-ta-li đều theo ông. Khi ông cầu nguyện xin Chúa cho phép lạ, thì lốt chiên ướt đẫm sương đêm trong khi đất chung quanh khô, kế đến thì đất ướt còn lốt chiên lại khô. Sương chỉ về ân điển của Chúa làm phục hưng. Lúc đó dân Y-sơ-ra-ên như lốt chiên khô, trong lúc dân ngoại tươi tốt, về sau dân ấy trở nên đầy sức lực của Chúa trong khi dân ngoại ở chung quanh mất sức. Lốt chiên sau đó trở nên khô, còn đất chung quanh nơi đó thì ướt, làm hình bóng về dân Y-sơ-ra-ên trong thời đại nầy chối bỏ Tin lành, còn dân ngoại trên thế gian nhận lấy sương móc của ân điển. Sau đó khi Chúa tái lâm, dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên sương móc cho dân ngoại (Mi 5:7).
Ghê-đê-ôn và cả dân sự đi đến đóng trại gần suối Ha-rốt (tức là suối run sợ). Cách xa dân Ma-đi-an 5 hay 6 cây số ở phía Bắc bên đồi Mô-rê thuộc trũng Gít-rê-ên (Quan 6:33; 7:1). Số người theo Ghê-đê-ôn là 32.000 người. Trước đó những người nhát sợ bị đuổi về chỉ còn một vạn người ở lại (Phục 20:8). Để Y-sơ-ra-ên không ỷ vào lực lượng của mình và không có cớ để tự mãn về sau nầy, Chúa lại giảm bớt người nữa là những người chưa thật sẵn sàng, Chúa bảo Ghê-đê-ôn thử những người ấy bằng cách cho uống nước bên bờ sông, và chỉ giữ lại những người dùng lưỡi liếm nước bụm trong tay mà thôi, còn những người quì gối xuống mà uống đều bị đuổi về hết. Số người ở lại với Ghê-đê-ôn là ba trăm người (Quan 7:6).
Kế đó, vào ban đêm, Ghê-đê-ôn đi với Phu-ra đầy tớ ông, đến trại quân của người Ma-đi-an, nghe những tên lính canh người Ma-đi-an đang bàn tán với nhau về chuyện một cái bánh lúa mạch lật đổ trại quân mà một trong những người lính đã nằm chiêm bao. Ấy là chỉ bóng về dân Y-sơ-ra-ên sẽ thắng dân Ma-đi-an; bánh lúa mạch là đồ ăn của người nghèo, chỉ bóng về dân Y-sơ-ra-ên bị khinh rẻ, còn trại quân chỉ về đời sống lưu lạc, tự do và có quyền thế của dân Ma-đi-an (Quan 7:9-15).
Ghê-đê-ôn chia 300 người làm 3 đội, phát cho mỗi người một cái kèn, một cái bình không và một cây đuốc, dặn phải làm y như mình đã làm. Lúc canh ba (nửa đêm) ông cùng ba đội quân đi đến và đứng xung quanh trại quân của người Ma-đi-an, cầm kèn thổi vang, đập bể những bình đem theo, và đốt đuốc lên soi sáng khắp mọi nơi (IICôr 4:6-7); đoạn cất tiếng reo lên: “Gươm của Chúa và của Ghê-đê-ôn”, rồi đi lại chung quanh trại quân đó. Dân Ma-đi-an phần vì hoảng sợ, phần vì ánh sáng chói chang của những ngọn đuốc nên đã giết lẫn nhau (chỉ bóng về Đấng Christ cuối cùng sẽ hủy diệt Antichrist, Ês 9:4-7. Mỗi người của Ghê-đê-ôn cứ cầm kèn thổi, tiếng kèn vang xa trong đêm, những người còn sót lại trong đạo binh Ma-đi-an chạy trốn độ 20 cây số đến Bết-si-ta về phía Giô-đanh, thì bị những người Y-sơ-ra-ên mà khi trước không được tuyển vào đội quân rượt theo. Khi đến các chỗ khô cạn của sông Giô-đanh, dân Ép-ra-im bắt được hai quan trưởng của Ma-đi-an là Ô-rép (con quạ) và Xê-ép (con sói) mà giết đi (Quan 7:16-25). Có chừng 120.000 người Ma-đi-an bị giết (Quan 8:10). Kỷ niệm của chiến công lừng lẫy ấy còn ăn sâu trong những lời truyền khẩu của dân Y-sơ-ra-ên (ISa 12:11; Thi 83:11; Ês 9:3; 10:26; Hêb 11:32). Ghê-đê-ôn đánh nhau với Ma-đi-an hai lần nữa và đắc thắng luôn.
3. Sau đó có sự hòa bình trong xứ 40 năm, Ghê-đê-ôn được tôn trọng, sanh con cái đông đúc. Giống như Sau-lơ, ông được dân sự chú ý về bề ngoài đáng được làm quan trưởng (Quan 8:18). Song khi dân sự muốn tôn ông lên làm vua, ông từ chối, muốn giữ chủ nghĩa dân chủ, để Đức Giê-hô-va cầm đầu. Ông chỉ xin có một điều là: giao cho ông những vòng vàng cướp được trong khi tranh chiến. Ông làm một cái Ê-phót để trong thành của mình tại Óp-ra. Có lẽ Ghê-đê-ôn vốn không có ý xấu, nhưng nó trở nên một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người, vì cả dân Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái Ê-phót đó, ấy là đã phạm tội thờ hình tượng. Ông đã phạm tội vì không làm thầy tế lễ của Chúa, khiến dân sự bị cám dỗ bỏ nơi thánh thật, vì vậy sau khi ông chết dân sự thờ lạy thần tượng Ba-anh. Ông đáng khen ở chỗ không có tham vọng làm vua, chỉ trở về nhà mình, về sau qua đời vì tuổi tác cao, ông được chôn trong mồ mả của Giô-ách tại Óp-ra. Nhưng con của ông là A-bi-mê-léc thì trái ngược với cha mình, có nhiều tham vọng nên về sau làm nhiều sự đáng rủa sả cho xứ mình, thật khác với người cha đã làm cho dân sự được nhiều phước lớn.