GEDDIE, JOHN
(1814-1872)
John Geddie là một trong những anh hùng truyền giáo mà ít người có thể quên được. Geddie ra đời năm 1814 ở Banff, thuộc xứ Scotland, trước trận chiến lịch sử Waterloo vài tuần. Khi mới sanh Geddie ốm yếu quá đến nỗi cha mẹ không tin rằng ông có thể sống còn nổi. Bởi vậy thân phụ ông đã hứa nguyện nếu Đức Chúa Trời cho con sống, thì ông sẽ dâng nó làm một nhà truyền bá Tin lành ở nơi xa xôi.
Năm 1816 gia đình ông dời đến ở Picton, Nova Scotia, Gedie học hành chậm, và chẳng tỏ ra là một học sinh có tài năng gì. Thể lực đã kém, mà năng lực trí tuệ cũng chẳng xuất sắc mấy. Nhưng có ai biết được rằng trong dáng điệu âm thầm của cậu học trò mảnh mai, trầm tĩnh đó lại ẩn tàng một ý chí mạnh mẽ mà sự nghiệp về sau này đã chứng minh rất hùng biện rằng đây chẳng phải là một con người tầm thường.
Rồi Geddie đã gia nhập làm Viện sĩ Hàn lâm viện Picton, năm 1837. Ông được cử làm bộ trưởng lúc mới 23 tuổi. Ông đã khuyến khích tái lập trụ sở truyền giáo ở New Hebride, và chính ông tình nguyện đầu đơn làm nhà truyền giáo tiên phong. Hơn 100 năm trước, phải là một người can đảm có thừa mới dám lao vào một chuyến vượt biển ra đi như ông bà Geddie. Họ rời Halifax vào ngày 30-11-1846. Trải qua nhiều trận phong ba, đầy thử thách hòng gian nguy tánh mạng, mãi đến ngày 13-7-1848 (gần 2 năm sau) họ mới tới được Aneityum. Đây là nơi mà thuyền trưởng lừng danh Cook đã gọi là Hebrides, vì giống như sinh quán của ông. Cách Aneityum không xa là đảo Erromange nhuộm máu, một chỗ mà trước kia nhà truyền giáo anh hùng John Williams và Harris bạn ông đã bị bọn thổ dân man rợ đập chết và ăn thịt ngay khi hai ông vừa đặt chân lên bờ! Tâm trí ông bà Geddie không thể nào quên được cảnh tượng hãi hùng ấy.
Dân trên đảo này rất man rợ và hung ác. Tội ác xem ra bình thường: trộm cắp, khát máu, gian dâm như cơm bữa, và họ không có luân lý nào khác hơn là giáo mác đem theo bên người họ, và sẵn sàng “xơi tái” thù địch bất cứ lúc nào! Phụ nữ thì chỉ là đồ vật sở hữu, họ bị bóp cổ chết ngay khi người chồng vừa qua đời! Vậy mà Geddie kiên nhẫn làm việc một thời gian, nhưng không thể nào xua tan bầu không khí “sắc máu” giữa đám dân dã man này được. Dĩ nhiên mạng sống ông bị đe dọa thường trực. Dầu vậy thì ông cũng đã đứng ra giàn xếp để cho các bộ lạc khác nhau tránh nhiều cuộc xung đột đưa đến đổ máu rất kinh hoàng.
Cuối năm đầu, Dowell, viên phụ tá ông bà Geddie rút lui trở về đảo Samoa vì quá sợ hãi và chán nản, bỏ hai giáo sĩ này ở lại trơ trọi. Hơn 3 năm họ không nhận được bất cứ tin tức nào từ gia đình. Trạm truyền giáo bạn gần nhất cách đó 1500 dặm. Thật là cô đơn, chẳng có ai để chia sẻ những nổi nhọc nhằn với họ cả. Tuy vậy, Geddie và người vợ trung thành của ông vẫn cứ nhẫn nhục, âm thầm chịu đựng vì thương yêu linh hồn đồng loại và muốn đem ơn cứu rỗi đến cho họ. Không một lời than vãn, thất vọng nào thốt ra từ cửa miệng của đôi vợ chồng giáo sĩ cường dũng này.
Ngày nào cũng có các em nhỏ đến học chữ với họ, đó là một niềm an ủi, mặc dầu cha mẹ chúng vẫn chẳng có chút nào thay đổi thái độ thù địch với hai vị truyền giáo này. Giáo sĩ cùng bà Geddie cũng đã xuất bản một quyển giáo khoa 13 trang bằng một máy in cỡ nhỏ. Có một tên sắc tộc khát máu là Kapado đã thường đến quấy phá nhóm Cơ Đốc bé nhỏ của ông bà Geddie. Một hôm Kapado muốn dùng búa rìu đập chết ông bà Geddie. Hắn đứng rình nhiều giờ bên ngoài nhà vị giáo sĩ này. Khi ông vừa bước ra ngoài, tên sát nhân liền theo chân và giơ chiếc búa lên, nhưng thình lình tay hắn cứng đơ lại, rồi bỗng dưng yếu đuổi thả cái búa xuống đất. Một mối cảm động sâu xa xâm chiếm tâm hồn Kapado, hắn tức thì chạy ngay ra trước mặt vị giáo sĩ, quỳ xuống ăn năn tội và nài xin ông dạy Đạo cho hắn! Thật Đức Chúa Trời quyền năng đã cứu đầy tớ tinh tuyền của Ngài chỉ còn một tấc đến sự chết! Tự nhiên việc Kapado trở lại tin thờ Chúa là một biến cố diệu kỳ cho toàn dân trên đảo Aneityum, người người không khỏi hoảng hốt và kinh ngạc do những tin tức loan đi: “Tên đồ tể Kapado không giết chết ông Geddie được!” Bọn người dã man quay lại bắt bớ Kapado dữ tợn, hăm dọa giết Kapado, kẻ tín giáo tân tòng đã dám bỏ hàng ngũ của chúng mà “hoàn lương”. Giáo sĩ đáng kính này luôn bị theo dõi, kẻ âm mưu ám sát ông ở khắp nơi, và không cứ giờ phút nào.
Năm 1864, sau 16 năm hầu việc Chúa cách can đảm, hy sinh, ông bà được trở về Nova Scotia nghỉ hai năm. Năm 1866 Geddie và vợ ông trở lại “cơ sở” truyền giáo của mình ở Aneityum vùng New Hibrides. Lần này lạ lùng thay, cả dân trên đảo Aneityum mở hội tưng bừng để nghênh đón hai vị truyền giáo kính mến của họ! Thật là ngoài trí tưởng tượng của ông bà. Khi tàu lớn cập bến, ông bà được thổ dân rước qua một chiếc thuyền nhỏ và được công kênh ngồi lên chiếc kiệu lộng lẫy để về ngôi nhà của họ giữa những tiếng reo hò vang dậy! Thật khác với lần đổ bộ đầu tiên một trời một vực. Giữa đám dân man rợ trần truồng, mình mẩy sơn phết đủ màu với võ trang gậy gộc giáo mác đầy cả người. Đây là một thành công vượt mức, chứng thực cho quyền năng vô song của Tin lành, và những “Chiến lợi phẩm thánh” mà hai đầy tớ kén chọn trung thành của Chúa dâng lên cho Ngài.
Giáo sĩ Geddie và bà lại tiếp tục công việc. Nhưng 6 năm sau ông mắc phải chứng bệnh tê liệt và qua đời vào năm 1872 thọ được 58 tuổi. Khi đưa thi hài ông lên tàu về nước, không một người nào khỏi phải sụt sùi giọt lệ thương tiếc người đã quên mình vì họ. Mọi người đều khao khát về một tấm bia cao quý mà trên đó ghi lại những công trạng vĩ đại mà Giáo sĩ Geddie cùng người vợ hiền của mình đã thực hiện cho Đức Chúa Trời thế này: “Khi Giáo sĩ mới đặt chân đến Aneityum vào năm 1848 thì chưa có một Cơ Đốc nhân nào. Nhưng khi ông qua đời năm 1872, thì không còn một người nào theo đa thần giáo trên đảo nữa”.