Galilee. Galilée (Hêb: Một vòng hoặc một khu).
I. Tỉnh phía Bắc nước Do-thái. Đời xưa, tên đó chỉ riêng về một miền đất nhỏ thôi, (ICác 9:11). Trong đời Chúa Jêsus, đất đó chia làm 2 phần trên và dưới: Ga-li-lê trên là đất miền núi. Ga-li-lê dưới là đồng bằng, đất đai ở đây màu mỡ, sản xuất nhiều đậu, lúa mạch, lúa đại mạch, trái cây, súc vật, cá mắm v.v… Toàn xứ Ga-li-lê bao gồm phần đất của các chi phái Nép-ta-li, A-se, Y-sa-ca, và Ba-by-lôn. Xứ Ga-li-lê dưới có 404 thành. Những thành mà Kinh Thánh thường nói là Na-xa-rét và Ca-bê-na-um (Mác 1:9; Mat 4:13; Giăng 7:52). Còn Ga-li-lê của dân ngoại (Ês 9:1; Mat 4:15) thì dường như ở vào xứ Ga-li-lê trên, giáp với Ty-rơ, Si-ri và Phê-ni-xi, v.v… Nhân dân xứ Ga-li-lê mạnh mẽ và siêng năng. Vì tiếng nói của họ khác với người Do-thái (Mat 26:73), và phần nhiều là người lai dân ngoại với dân Do-thái cho nên người Do-thái phía Nam thường coi khinh họ (Lu 13:1; 23:6; Giăng 1:46; 7:52).
Chúa lớn lên ở Na-xa-rét, khi khởi hành chức vụ thì Ngài ở Ca-bê-na-um (Mat 4:13; 9:1). Một sự đáng chú ý là ba quyển sách Tin lành: Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca chép rất nhiều về việc Chúa ở Ga-li-lê, song chỉ có sách Tin lành thứ tư (Giăng) thì chép nhiều về việc Chúa ở Giu-đê. 12 Sứ đồ là người Ga-li-lê vì đây là quê hương hay là nơi ở của họ (Công 1:11). Những thí dụ Chúa phán phần nhiều dựa vào những đặc điểm của xứ Ga-li-lê. 70 năm sau Chúa, khi Giê-ru-sa-lem bị phá, Ga-li-lê trở nên nơi có nhiều trường học và có các giáo sư rất danh tiếng.
II. Ga-li-lê (Biển) Coi chữ biển Ga-li-lê.