Ê-xơ-tê

Esther. Esther (Tiếng Ba-tư: Ngôi sao).
Ê-xơ-tê, là tên một người được đặt theo tiếng Ba-tư, là con gái của A-bi-hai, thuộc chi phái Bên-gia-min. Thuở bé, nàng mồ côi, được nuôi nấng ở nhà người bà con tên là Mạc-đô-chê. Nàng có sắc đẹp tuyệt vời, được vời vào cung làm hoàng hậu (Exơ 2:15-18). Chịu sự giáo dục của Mạc-đô-chê, nàng cứu người đồng chủng thoát khỏi tai họa lớn bởi kẻ thù nghịch gây ra. Việc này chép kỹ ở trong sách Ê-xơ-tê.
Sách Ê-xơ-tê là bản dịch ở trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ. Nó đứng vào loại thứ ba trong bộ thứ hai. Bản sách Ê-xơ-tê ra đời cùng với sách Ru-tơ, Truyền đạo, Nhã Ca và Giê-rê-mi đều kể là năm Kinh. Sự sắp đặt đó là do những người Do-thái có quyền lực và do Hội Thánh Đấng Christ ngày xưa bàn luận kỹ càng rồi mới làm vậy. Đến thế kỷ thứ II S.C., có nhà học giả Do-thái nói rằng sách Ê-xơ-tê không hề do người làm ra. Nói như thế nghĩa là sách đó thánh sạch đáng kể vào loại Kinh! Vả, ngày nay, người Do-thái rất quí sách Ê-xơ-tê, và hằng năm cứ giữ lễ Phu-rim.
Nguyên văn sách Ê-xơ-tê là bằng tiếng Hê-bơ-rơ, song có lẫn một vài tiếng Ba-tư, như vậy có lẽ tác giả là người Do-thái nhưng cũng có tiếp xúc với người Ba-tư. Có lẽ tác giả chính là Mạc-đô-chê, vì tác giả biết rõ mọi sự xảy ra và tên mọi người được chép trong đó. Điều đặc biệt là trong sách không chép danh Chúa, và chỉ có vài chỗ tỏ ý hướng về tôn giáo, như 4:14 nói mọi việc của người đời đều do trời sắp đặt cả, mặc dầu câu đó không nói đến Đức Chúa Trời. Hay đoạn 4:16 nói về sự kiêng ăn, tức là có ý niệm về đạo Chúa rồi. Còn 9:31 thì dường như là lời cầu nguyện. Tân Ước không hề nhắc đến sách này và cũng không trích một câu nào.
Theo đoạn 10:2 dường như lúc Sách Ê-xơ-tê nầy được chép, thì Hoàng đế Xerxes đã băng hà; có người tính là năm 425 T.C.; tức là bốn mươi năm sau khi Xerxes bị ám sát, và vua Ạt-ta-xét-xe trị vì nước Ba-tư.
Tiến sĩ Fausset, viết về sách Ê-xơ-tê rằng: Sự đặc biệt của sách nầy là không chép danh Chúa, cả sách Nhã Ca cũng vậy. Chắc ý định của sách Ê-xơ-tê là: Trong khi dân Ngài bị đày dưới quyền người ngoại, dường như không có Chúa tể trị, nên phải nhờ những sự kiện của lịch sử để làm chứng cho mình, cũng như cõi thiên nhiên dường như một quyển sách làm chứng (Thi 19:1-; Rô 1:20) về sự săn sóc của Chúa và quyền tể trị của Ngài, dầu Ngài giấu mình không phán lời nào. Dầu mắt ta không thấy Chúa, điều đó không có nghĩa là Ngài không hành động. Chính vì nhờ sách Ê-xơ-tê không chép danh Chúa, khiến lòng tín đồ thắc mắc muốn biết lý do. Bởi câu hỏi đó, tín đồ mới biết do công việc Ngài mà ý Chúa được thành trong thế gian, là nơi Ngài bị che khuất; cũng như bởi ân điển Ngài mà ý Ngài cũng được nên trong Hội Thánh, là nơi Ngài được tỏ ra.
Vậy, ta thấy trong sách Ê-xơ-tê ý định Ngài được thành như sau:
1. Bởi vua A-suê-ru chỉ ham vui chơi, ăn uống; bỏ vợ là Hoàng hậu Vả-thi vì một lí do không đáng; về sau vua lấy người mà Chúa đã chọn và dự bị, là bà Ê-xơ-tê làm Hoàng hậu thay cho Vả-thi.
2. Bởi Mạc-đô-chê khi trước đã cứu vua khỏi bị ám sát, và việc nầy đã được chép vào sách Sử-ký của vua. Điều này dọn đường cho Mạc-đô-chê hưởng sự vinh hiển của vua mà kẻ thù nghịch mình ham muốn;
3. Bởi Ha-man “bỏ Phu-rơ, nghĩa là bỏ thăm” tìm một ngày có điềm tốt, “để diệt trừ và phá hủy dân Do-thái”. Trái lại, vì cớ ấy, ý Chúa được thành và dân Do-thái hằng năm vẫn giữ lễ Phu-rim để kỷ niệm Chúa gìn giữ dân Do-thái, và hủy diệt kẻ thù nghịch đó.
4. Bởi Ê-xơ-tê có lòng yêu dân mình nên sau khi đã kiêng ăn ba ngày, rồi vào chầu vua, thì Chúa cảm động lòng vua cho “bà được ơn trước mặt vua; vua giơ ra cho bà Ê-xơ-tê cây phủ việt vàng”, như vậy bà giữ được sự sống mình, và được vua ban điều bà cầu xin (Châm 21:1).
5. Bởi sự kiêu ngạo của Ha-man được vua vời ông đến dự tiệc yến của bà Ê-xơ-tê, và dựng mộc hình để treo Mạc-đô-chê, cũng vì ý Chúa được thành, nên đêm hôm trước bữa tiệc yến đó, vua không thể ngủ, bèn truyền đem sách Sử-ký đọc; vậy vua được nghe chuyện Mạc-đô-chê đã cứu mình sống, và khi Ha-man tới tâu vua truyền cho treo Mạc-đô-chê trên mộc hình, vua hỏi Ha-man rằng: “Phải làm gì cho người nào vua muốn tôn trọng?” Ha-man thầm nghĩ vua nói đến mình, bèn tâu: Hãy lấy những đồ rất quí của vua mà ban cho người ấy. Như vậy, Ha-man đã dùng chính môi miệng mình mà tôn vinh người mình muốn giết đi.
6. Bởi sự kết cục tiệc yến của bà Ê-xơ-tê, Ha-man bị treo trên mộc hình mà mình đã dựng cho Mạc-đô-chê (Thi 7:14-16).
7. Và bởi dòng thánh được giữ gìn khỏi bị hủy diệt, để về sau được ứng nghiệm lời tiên tri rằng dân đó phải sanh ra Đấng Mê-si. “Phàm binh khí chế ra nghịch cùng Người (Đấng Mê-si) sẽ chẳng được thạnh lợi, và Người sẽ định tội mọi lưỡi dấy lên để xét đoán Người” (Ês 54:17. Cũng so với Ês 6:13; 65:8; Giê 30:10, 11; Xa 2:8, 9).
Tiến sĩ Scofield chú thích sách Ê-xơ-tê như sau:
Điều trọng yếu nhứt của sách Ê-xơ-tê là làm chứng về Đức Giê-hô-va canh giữ dân Y-sơ-ra-ên tản lạc cách kín đáo. Sách nầy tuy không chép danh Chúa một lần nào, song trong Kinh Thánh không có sách nào khác bày tỏ về sự săn sóc lo liệu của Chúa một cách rõ ràng hơn. Số dân bị đày chỉ có ít người sót lại trở về Giê-ru-sa-lem. Còn phần đông ưa cư ngụ ở nước Ba-tư vì tiện lợi hơn. Nhưng Đức Chúa Trời không lìa bỏ họ. Sách nầy chép Chúa làm điều gì cho dân Do-thái thì chắc chắn cũng làm cho cả dân thuộc giao ước của Ngài nữa.
Sách Ê-xơ-tê chia làm 7 phần:
I. Truyện Hoàng hậu Vả-thi (1:1-21).
II. Bà Ê-xơ-tê được chọn làm hoàng hậu (2:1-23).
III. Âm mưu của Ha-man (3:1-15).
IV. Ê-xơ-tê can đảm giải cứu dân Do-thái (4:1-7:10).
V. Sự báo thù (8:1-9:19).
VI. Thiết lập lễ Phu-rim (9:20-32).
VII. Kết luận (10:1-3).
Theo Ussher, những sự xảy ra trong sách nầy gồm có 12 năm.

Lên đầu trang