Isaiah. Ésa#e. (Tiếng Hê-bơ-rơ “Đức Giê-hô-va đã cứu rỗi”. Cũng có một ý nghĩa với Jêsus là Đấng Mê-si mà ông hay nói đến trong những lời tiên tri của mình).
Niên lịch.– Khoảng năm hơn 700 T.C., có bốn tiên tri viết sách, là A-mốt; Ô-sê; Ê-sai và Mi-chê. A-mốt và Ô-sê ở trước đời Ê-sai một chút; Mi-chê thì đồng thời với Ê-sai. Nhưng vì Mi-chê qua đời trước, nên không giảng đạo lâu bằng Ê-sai. Ê-sai là con trai của A-mốt, đồng thời vớICác nước Giu-đa là Ô-xia, Giô-tham và Ê-xê-chia (Ês 1:1).
Cuộc đời:. Vào năm vua Ô-xia băng, năm 738 T.C (Ês 6:1), Ê-sai vâng mạng sai phái. Năm 701 T.C., khi San-chê-ríp, vua A-si-ri, đánh thành Giê-ru-sa-lem, Ê-sai hãy còn nói tiên tri. Bởi vậy biết rằng Ê-sai đã giảng đạo trải qua bốn mươi năm.
Ông thi hành chức vụ mình ở thành Giê-ru-sa-lem. Có lẽ ông là con nhà quan, vì ông năng ra mắt vua và thầy tế lễ thượng phẩm; lại quen biết nhiều người quyền quí. “Trũng của sự hiện thấy” (22:1) có lẽ ngụ ý rằng ông ở phần dưới thành mà thấy các dị tượng, dầu “trũng” đó cũng có thể chỉ về cả thành Giê-ru-sa-lem, vì chung quanh có núi cao hơn núi Si-ôn và Mô-ri-a. Kinh của dân Do-thái (Talmud) nhờ một cuốn gia phổ cũ đã tìm được tại thành Giê-ru-sa-lem, có chép rằng: Vua Ma-na-se sai lấy một cái cưa bằng gỗ mà cưa xẻ Ê-sai ra làm hai. Có lẽ Hêb 11:37 chỉ về cách chết của Ê-sai. Ở Ês 1:1 tỏ ra không có lời tiên tri nào của Ê-sai chép trong đời vua Ma-na-se. Ông Ê-sai thâu góp lại những lời tiên tri mình viết khi vua Ê-xê-chia băng, song khi vua Ma-na-se bắt đầu trị vì thì Ê-sai bị giết vì dân chúng bội đạo. Họ lấy cớ bắt tội Ê-sai vì ông dám chép rằng: “Mắt tôi đã thấy vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân” (Ês 6:5), trong khi Chúa nói: “Không ai thấy mặt ta mà còn sống” (Xuất 33:20). Điều này hợp với “Ma-na-se cũng đổ nhiều huyết vô tội ra” (IICác 21:16). IISử 32:32 nói Ê-sai có hầu hạ vua Ê-xê-chia. Vợ ông làm nữ tiên tri (Ês 8:3). Con trưởng ông là Sê-a-gia-súp (Ês 7:3). Nghĩa là “dân còn sót lại ắt theo về”. Con thứ ông là Ma-he-sa-la-hát-bát (Ês 8:1), nghĩa là “sự cướp mau tới, của cướp kíp đến”. Ông thường lấy nghĩa của tên ông và của hai con ông làm đầu đề giảng luận, ông nói: “Tôi đây, với con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi, là dấu và điềm trong Y-sơ-ra-ên” (Ês 8:3, 4, 18). Ý nghĩa ba tên đó đã nói lên hai điều cốt yếu của lời tiên tri ông:
1. Đối với thế gian, Chúa lấy lòng nghiêm khắc mà đoán phạt;
2. Song đối với dân lựa chọn, Chúa lấy lòng thương xót mà cứu rỗi. Đôi khi ông lại lấy sự ông để đầu trần và đi chân không làm dấu và điềm chỉ về Ai-cập và Ê-thi-ô-bi (Ês 20:3).
Khi Ê-sai giảng đạo, có ba lần ông thay đổi tình thế nguy biến thành ra yên ổn:
1. Năm 735 T.C., vua Sy-ri và vua Y-sơ-ra-ên cùng đánh thành Giê-ru-sa-lem (Ês 7:1-8:18).
2. Năm 711 T.C.. Nước A-sy-ri đánh Ách-đốt (Ês 20).
3. Năm 701 T.C., vua A-si-ri đánh thành Giê-ru-sa-lem (Ês 36:39).
Ê-sai vâng mạng đi giảng đạo không phải để yên ủi người ta, song để cảnh cáo người ta về một tương lai hiểm nghèo (Ês 6:10-13). Nỗi “hiểm nghèo” bắt đầu từ nước A-si-ri, và cái cớ gây nên hiểm nghèo là bởi nhân dân dối trá, quan lại tham ô (Ês 2:6-4:1; 5:8-24). Từ trên đến dưới phụ ơn bội nghĩa Đức Chúa Trời (Ês 5:1-7). Dầu dâng của lễ nhiều, song họ lại làm điều dữ (Ês 1:2-31).
Lối giảng đạo của ông nhìn chung giống A-mốt và Ô-sê; nhưng người ta lại cảm động mạnh hơn hai tiên tri kia. Vì ông giảng đạo lâu đến bốn mươi năm và có môn đồ hiệp sức giúp đỡ (Ês 8:16). Dầu ông thường nói Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sẽ đến tiêu diệt, song lại nói hai nước đó sẽ còn dòng dõi thánh (Ês 6:13). Vả, ông có nói Giê-ru-sa-lem sẽ được xưng là thành công bình, là ấp trung nghĩa (Ês 1:26). Trong các lời tiên tri, có những câu rất hay như ở Ês 9:1-7, v.v…, khiến người Do-thái đời sau một lòng trông mong Đấng Mê-si giáng lâm.