Danh Đức Chúa Trời

Các danh Đức Chúa Trời Names of God. Noms de Dieu.

Tiến sĩ Scofield chú thích về các danh Đức Chúa Trời:

Sáng 1:1.– Elohim (có khi El hoặc Elah, dịch quốc văn là “Đức Chúa Trời, “) là tên đầu tiên trong ba tên của Đức Chúa Trời, là một tiếng chỉ tên về số nhiều hiệp một. Từ El, tức sức mạnh, hoặc Đấng mạnh sức, và Alah, tức thề, tự buộc mình bởi một lời thề, như vậy chỉ về sự trung tín. Lối viết số nhiều hiệp một trong tên được chứng quyết trực tiếp trong Sáng 1:26 (số nhiều) 27 (số hiệp một); cũng xem Sáng 3:22. Bởi vậy, Ba Ngôi được ẩn trong Elohim. Theo nghĩa đầu tiên là Đấng Mạnh sức thì tên ấy đáng dùng trong đoạn đầu sách Sáng thế ký. Danh nầy dùng trong Cựu Ước chừng 2500 lần.

Sáng 2:4.– Xem bài Đức Giê-hô-va.

Sáng 15:2.– “Chúa” (Hê-bơ-rơ: Adon Adonai).

1. Ý nghĩa đầu tiên của Adon, Adonai là “Chủ” (Ma#tre) và trong Cựu Ước ứng dụng cả cho Đức Chúa Trời lẫn loài người. Chỉ về người thì được phân biệt bằng cách in chữ thường và không có chữ hoa. Nếu ứng dụng cho người, thì từ đó dùng có hai nghĩa thân mật: chủ và chồng (Sáng 24:9, 10, 12, “chủ” có thể minh chứng về chủ; Sáng 18:12 “chúa” chỉ về chồng). Cả hai sự thân thuộc đó có giữa Đấng Christ và tín đồ (Giăng 13:12, “thầy, ” IICôr 11:2, 3, “chồng”).

2. Có hai nguyên lý tự nhiên ra từ sự liên hệ giữa chủ và đầy tớ: a) Quyền của chủ đòi phải vâng phục ngay (Giăng 13:13; Mat 23:10; Lu 6:46); b) Quyền của đầy tớ là ở chỗ được chủ chỉ dạy công việc (Ês 6:8-11). Sự phân biệt rõ ràng trong sự dùng các danh Ngài được minh chứng trong Xuất 4:10-12. Môi-se thấy sự yếu đuối và bất tài của mình, nên “Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! Lạy Chúa (Adonai), tôi vẫn chẳng phải là một tay nói giỏi, ” v.v. Vì nói đến sự hầu việc, Môi-se (cách hợp lệ) thưa Đức Giê-hô-va như là Chúa. Song nay nói đến quyền phép, thì ấy không phải là Chúa (Adonai), song Đức Giê-hô-va đáp lại (chỉ đến quyền phép sáng tạo) — “Ai tạo miệng loài người ra?… Vậy bây giờ, hãy đi; ta sẽ ở cùng miệng ngươi.” Sự phân biệt đó cũng tỏ ra trong Giô 7:8-11.

Sáng 17:1.– “Đức Chúa Trời Toàn năng” (Hê-bơ-rơ: El Shaddai).

1. Ý nghĩa căn nguyên của Đức Chúa Trời Toàn năng (El Shaddai) là rất hay và cảm động. Đức Chúa Trời (El) chỉ về “Đấng Mạnh sức” (Sáng 1:1, lời chua). Chữ chỉ tính chất Shaddai được hợp từ tiếng Hê-bơ-rơ “Shad, ” ngực, bao giờ dùng trong Kinh Thánh cũng chỉ về ngực của đàn bà; xem Sáng 49:25; Gióp 3:12; Thi 22:9; Nhã 1:13; 4:5; 7:3, 7, 8; 8:1, 8, 10; Ês 28:9; Êxê 16:7. Vậy, Shaddai trước hết có ý nghĩa là “có ngực.” Đức Chúa Trời là “Shaddai, ” vì Ngài là Đấng nuôi dưỡng, Đấng ban cho sức lực, và bởi thế, theo nghĩa Đấng làm cho thỏa mãn, để chính Ngài vào trong các đời sống tin kính. Như một em bé hay làm nũng không thỏa lòng, chẳng những chỉ được thêm sức mạnh và được nuôi bởi ngực bà mẹ, song cũng được yên ủi, yên nghỉ, và thỏa lòng, cũng vậy El-Shaddai là danh của Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài ra như Đấng ban sức và Đấng làm thỏa lòng dân Ngài. Mỗi lần Shaddai được dịch là Đấng Toàn năng thì đáng tiếc; vì danh đầu tiên El hoặc Elohim đủ để chỉ nghĩa toàn năng đó. “Đấng cung cấp đầy đủ mọi sự, ” ấy thật rất đáng cho cả hai nghĩa Hê-bơ-rơ và cách dùng đặt biệt của danh El-Shaddai trong Kinh Thánh.

2. Đức Chúa Trời Toàn năng (El-Shaddai) không phải chỉ làm cho giàu, song cũng làm cho có kết quả. Không có chỗ nào minh chứng tốt hơn là lần thứ nhứt chép tên Ngài (Sáng 17:1-8). Ngài phán với một người 99 tuổi, “một người già yếu” (Hêb 11:12): “Ta là Đức Chúa Trời Toàn năng (El-Shaddai)… Ta sẽ… làm cho dòng dõi ngươi thêm nhiều quá bội.” Lối dùng danh đó trong Sáng 28:3, 4 cũng một ý định như vậy.

3. Như là Đấng ban sự kết quả, Đức Chúa Trời Toàn năng (El-Shaddai) sửa dạy dân sự Ngài. Về sự liên lạc đạo đức của sự sửa dạy và sự kết quả hãy xem Giăng 15:2; Hêb 12:10; Ru 1:20. Bởi đó, Đấng Toàn năng là danh đặc biệt của Đức Chúa Trời chép trong sách Gióp 31 lần. Cánh tay của El-Shaddai đặt trên Gióp, người rất tốt lành trong thời mình, không phải để phán xét, song để làm cho tinh sạch mà được kết quả lớn hơn (Gióp 5:17-25).

Sáng 14:18.– “Đấng Chí Cao” hay “Đức Chúa Trời Chí Cao” (Hê-bơ-rơ: El-Elyon). “Elyon” chỉ có nghĩa là “cao nhứt.”

1. Sự khải thị thứ nhứt về danh Ngài (câu 18) chỉ những ý nghĩa đặc biệt. Áp-ra-ham trở về từ chỗ đắc thắng hơn năm vua đồng minh (Sáng 14:1-17), được gặp Mên-chi-xê-đéc, vua của Sa-lem… là “thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao” (El-Elyon), là vua nhơn danh El-Elyon tức “Đấng Chủ tể của trời và đất” mà chúc phước Áp-ra-ham. Sự khải thị nầy rất cảm động Áp-ra-ham. Không phải tổ phụ chỉ lập tức dâng cho Mên-chi-xê-đéc ” một phần mười “của những chiến lợi phẩm; song khi vua Sô-đôm biếu một phần khác của cướp cho Áp-ra-ham thì tổ phụ cũng trả lời, “Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao (El-Elyon) là Đấng Chủ tể của trời và đất, hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy.” v.v. (Sáng 14:18-23).

a) Đức Giê-hô-va được một vua Dân ngoại (Mên-chi-xê-đéc) biết bởi tên “Đức Chúa Trời Chí cao” (El-Elyon). b) Một người ngoại bang làm thầy tế lễ của El-Elyon. c) Tính cách đặc biệt như Đức Chúa Trời Chí cao là “Đấng dựng nên trời và đất.”

Hiệp với sự hiểu biết của Dân ngoại về Đức Chúa Trời bởi danh Ngài là “Đấng Chí cao” ta được biết rằng “Đấng Chí cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân (tức các dân ngoại), phân rẽ những con cái A-đam, ” v.v. (Phục 32:8). Như “Đấng Chủ tể của trời và đất, ” ấy là đặc quyền của Đấng Chí cao để phân chia đất giữa các dân, tùy theo bất cứ nguyên lý nào Ngài chọn. Nguyên lý đó được tuyên bố trong Phục 32:8. Sự dùng danh trong Đa-ni-ên, sách của lời tiên tri các dân ngoại, cũng một ý định đó (Đa-ni-ên 3:26; 4:17, 24, 25, 32, 34, 35; 5:18, 21).

2. Như “Đấng Chủ tể của trời và đất, ” Đức Chúa Trời Chí cao hiện hữu và hành động cùng một phép tắc trong cả hai phạm vi: a) phép tắc ở trên trời của El-Elyon (xem Đa-ni-ên 4:35, 37; Ês 14:13, 14; Mat 28:18); b) phép tắc ở dưới đất của El-Elyon (xem Phục 32:8; Thi 9:2-5; 21:7; 47:2-4; 56:2, 3; 82:6, 8; 83:6, 7, 16-18; 91:9-12; IISa 22:14, 15; Đa-ni-ên 5:18).

Sáng 21:33.– “Đức Chúa Trời hằng hữu” (Hê-bơ-rơ: El Olam).

1. Tiếng Hê-bơ-rơ Olam được dùng trong Kinh Thánh: a) về những sự mầu nhiệm hoặc giấu kín (xem Lê 5:2, “không tự biết;” IICác 4:27, “giấu;” Thi 10:1, “ẩn mình”); b) Một thời gian hoặc thời kỳ không nhứt định (Lê 25:32, “luôn luôn;” Giô 24:2, “thuở xưa”). Bởi đó Olam được dùng để bày tỏ thời hạn vĩnh viễn của bản thể Đức Chúa Trời (Thi 90:2 “từ trước vô cùng cho đến đời đời”), và là tiếng Hê-bơ-rơ đồng nghĩa với tiếng Hy-lạp aion, một đời hoặc một thời đại. Xem Sáng 1:27, 28, lời chua.

Vậy, Những ý nghĩa về các sự kín giấu và thời gian không nhứt định thu lại trong chữ Olam đó. Cả hai ý nghĩa đó vẫn có trong lẽ đạo về các thời đại và đời. Những ý nghĩa đó ở giữa vòng “những sự bí mật” của Đức Chúa Trời (Êph 1:9, 10; 3:2-6; Mat 13:11). Đức Chúa Trời “hằng hữu” (El-Olam) là danh của Đức Chúa Trời, theo đó Ngài là Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan đã chia mọi thời gian và thời vĩnh viễn thành sự mầu nhiệm của các đời hoặc thời đại liên tiếp nhau. Ngài không phải chỉ là Đấng hằng hữu, song Ngài cũng là Đức Chúa Trời trên mọi sự hằng có nữa.

Sáng 2:1.– Giê-hô-va Élohim. Xem bài Giê-hô-va, phần thứ 6 của phần Scofield.

Sáng 15:2.– “Chúa Giê-hô-va” (Hê-bơ-rơ: Adonai Giê-hô-va). Khi dùng cách riêng biệt, danh từ kép nầy, khi thâu hiệp những ý nghĩa riêng từng tên thành một (Sáng 1:1, lời chua; 15:2, lời chua), sẽ thấy có sự chú trọng Adonai hơn là Giê-hô-va về tánh cách của Đức Chúa Trời. (Những câu sau nầy có thể minh chứng điều đó: Sáng 15:2, 8; Phục 3:24; 9:26; Giô 7:7; Quan 6:22; 16:28; IISa 7:18-20, 28, 29; ICác 2:26; Thi 69:6; 71:5; Ês 7:7).

ISa 7:3.– Giê-hô-va Sabaoth. Xem bài Giê-hô-va Vạn quân.

Lên đầu trang