Chữ

Words.
I. Sự phát minh chữ Y-sơ-ra-ên.–Sáng thế ký không hề nói đến ai đã phát minh ra chữ. Thứ văn tự rất cổ còn sót đến bây giờ là chữ nước Ai-cập và nước Ba-by-lôn. Chữ Ai-cập là kiểu chữ tượng hình, ra đời sớm hơn. Chữ Ba-by-lôn là kiểu chữ hình nhọn. Người Y-sơ-ra-ên thì ghép các chữ cái đặc biệt lại thành ra văn tự, cũng giống lối chữ Anh và chữ Pháp. Phía tây châu A-si có vài thứ văn tự cũng hơi giống chữ Hê-bơ-rơ. Có nhiều bác sĩ đã từng khảo cứu, song không biết rõ nguồn gốc văn tự có từ bao giờ.
II. Hình thức chữ.–Lấy 22 chữ ghép lại làm thành văn tự. Cũng có các chữ số để ghi chép nữa. Khi viết thì viết từ phải sang trái, hoặc viết đầy đủ, hoặc viết tắt. Mat 5:18 có nói đến cụm từ: “Một chấm một nét”, theo nguyên văn, thì chỉ về kiểu chữ Hê-bơ-rơ, nét rất nhỏ. Ngày xưa sách vở không có chấm câu nên rất khó đọc! Về sau có những nhà học giả đặt ra độ hơn 30 cách chấm câu, nhờ thế việc đọc sách thuận tiện hơn. Các Kinh Thánh Cựu Ước đã in ngày nay đều có chấm câu cả.
III. Tài liệu sách vở.–Đời xưa không có giấy, chỉ khắc chữ vào gỗ hoặc vào da mà thôi. Về sau, người Ai-cập lấy lau, cói làm giấy; người Y-sơ-ra-ên cũng bắt chước dùng. Thứ giấy làm bằng da chiên thì bền hơn; song không chia thành từng trang được. Hễ sách nào dài người ta thường dùng vài tấm da nối liền nhau, rồi cuốn lại. Năm 600 S.C., có người đạo Hồi đem giấy Tàu vào nước Do-thái; nhưng người Do-thái vẫn thích dùng da chiên để viết luật pháp.
Trong đời Ê-sai nhiều người Y-sơ-ra-ên biết đọc và biết viết (Ês 29:11, 12). Có người chuyên làm nghề viết chữ như Ba-rúc làm thư ký của Giê-rê-mi (Giê 36:4). Bấy giờ chưa phát minh ra nghề in; mọi quyển sách đều do người chép tay, nên sách rất hiếm và rất quí. Mỗi một nhà hội, chỉ có một quyển Kinh Thánh. Thực ra Kinh thánh có rất nhiều, song chỉ toàn là truyền khẩu; cũng không chắc về sau có chép vào sách hay không.

Lên đầu trang