Chiến tranh

War.
I.Vào thời Cựu Ước.– Cựu Ước có thể chia làm năm ý:
1. Địa dư xứ Palestine.
Muốn biết rõ mọi cuộc chiến đã xảy ra chép trong Cựu Ước, trước tiên phải dò theo địa dư xứ Palestine. Ở Palestine có ba đường lớn có thể hành quân:
a. Từ phương bắc đi men mé Địa-trung-hải, qua thành Ty-rơ, núi Cạt-mên và thành Sem-sôn để đến nước Ai-cập.
b. Từ thành Đa-mách đi về phía tây-bắc rẽ sang núi Cạt-mên đi qua đồng bằng Esdraclon. Chỗ nầy bãi đất rộng rãi. Sản vật phong phú, lại có bốn cái đồn lớn do thổ dân ngày xưa đã xây đắp. Đây là một căn cứ quan trọng.
c. Từ phía bắc thành Đa-mách đến bờ bên giòng sông Giô-đanh, tới địa phương Sy-ri bên cửa biển Địa-trung-hải.
Nhưng ba đường kể trên đều chưa đi đến trung tâm nước Y-sơ-ra-ên được. Để có thể đi tới trung tâm nước đó, chỉ có một con đường nhỏ, và có một con đường biển từ Ai-cập qua Địa-trung-hải là có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược. Vì Ai-cập có thể dùng thuyền chở quân để đánh thẳng vào đó.
Phía tây nam xứ Palestine có nhiều pháo lũy để phòng sự tấn công của Ai-cập và Phi-li-tin. Phía ngoài đồng bằng Esdraclon còn pháo lũy để giữ cửa khẩu. Trung bộ nước Y-sơ-ra-ên có sườn núi, người ta lại xây vách thành kiên cố ở Giê-ru-sa-lem và Sa-ma-ri để đặt khí giới. Trong khi nước chia đôi nam bắc, bên nào cũng xây đắp thành lũy để giữ địa phận mình (ICác 22:3; Phục 4:41-43; IICác 8:28; 9:1). Địa hình địa dư xứ Palestine có nhiều hang núi và đường nhỏ, nên người Phi-li-tin, người Mô-áp và người Ma-đi-an thường xông vào bờ cõi để lấn lướt, cướp bóc. Người Hê-bơ-rơ cũng theo đó mà gây chiến.
2. Hình thức chiến tranh.
a. Các cuộc chiến tranh phần nhiều bắt đầu vào mùa xuân, tan rã vào mùa đông, song cũng có khi kéo dài đến vài năm mới yên (IICác 17:5; 25:1, 2, 3). Khi mới khai chiến; người Y-sơ-ra-ên cầu Chúa vùa giúp, cầu hỏi Ngài ở trước hòm giao ước (Quan 20:27-28), hoặc cầu vấn các tiên tri (ICác 22:15), hoặc nhờ đoán điềm chiêm bao (Quan 7:13). Cũng có khi đem hòm giao ước vào tận trại quân để mong Chúa vùa giúp ISa 4:3-11; IISa 11:11). Người Phi-li-tin thường đem hình tượng đi cùng (IISa 5:21).
Khi chủ tướng đem quân đi đánh, họ có khẩu-hiệu trước; hoặc ca hát hò reo (Quan 7:18; IISử 20:21), hoặc thổi kèn báo với mọi người (ISa 13:3; Giê 6:1), hoặc sai sứ giả đi hô hào dân chúng (Quan 7:24; IISa 11:7), hoặc dựng cờ làm hiệu (Ês 13:2).
b. Thao lược: Có vài lối tổ chức chiến trận ở thời Cựu Ước: 1) Thường dùng cách đánh lén ban đêm (Giô 10:9; Quan 7:19). 2) Dùng mưu kế phục quân (Giô 8:10-28; Quan 20:30-44). 3) Tạm rời trại để dụ giặc, đợi giặc đến rồi ập lại đánh giết (IICác 3:24; 7:12). 4) Chia quân ra đánh khiến quân địch không kịp xoay xở chống lại (Sáng 14:15; IISa 18:2).
Người Hê-bơ-rơ thường phòng giữ bằng cách triệu tập binh lính đông như vảy cá, khiên thuẫn tua tủa như răng lược, tay cầm cây giáo, chiếm cứ đồi núi, ví dụ như trận đánh ở trũng Ê-la: quân hai bên đối diện nhau, không bên nào chịu kém; cũng có vài người tẻ ra đánh riêng, song chỉ là một chọi một (IISa đoạn 17).
c. Đồn lũy: Xứ Palestine nhiều đồi núi, tiện lợi cho việc xây đắp đồn lũy. Trong chế độ quân chủ, người Y-sơ-ra-ên xây dựng thành lũy kiên cố ở các căn cứ quan trọng. Họ chế tạo những máy đặt trên các tháp và trên đỉnh các đồn lũy ở thành Giê-ru-sa-lem để bắn tên và đá lớn (IISử 26:15).
Nhờ Chúa giúp đỡ người Y-sơ-ra-ên đánh thành hoặc đồn lũy kiên cố dễ như lượm rác (Giô 6:20). Có khi dùng lối hỏa công (Quan 9:48-52). Nếu không hạ được thì vây thành thật lâu, khiến người trong thành đói khát khó chịu, hoặc dùng kẻ gian làm nội công để mua lấy thành. Người A-si-ri đánh thành bằng cách dùng cây tháp gỗ để bắn tên hoặc đá vào trong thành. Ngoài ra, họ còn dùng những thứ xe đá, xe súng bắn ra tên bay và đá lớn để đánh phá thành. Xem Êxê 26:8, 9 để biết lối đánh thành của họ.
d. Binh lương. Ngày xưa, hơn nửa lương lính là lấy ở của cướp được khi đánh nhau. Song thỉnh thoảng cũng có lương định sẵn, như vua A-ma-xia lấy một trăm ta-lâng bạc chiêu mộ những người mạnh dạn trong Y-sơ-ra-ên (IISử 25:6). Vua A-si-ri dùng nhiều dõng sĩ chiêu mộ từ nước ngoài đem về. Vua Đa-vít chia đều những vật cướp được cho lính đi trận và quân giữ trại (ISa 30:24-25). Có khi người ta đem một phần đồ vật thu được trong chiến tranh dâng cho Chúa (ISa 15:21; IISa 8:11).
3. Các hoạt động trong cuộc chiến tranh.
Đời xưa, quân nghịch làm phu tù bị ngược đãi nặng nề. Vua Đa-vít bắt người Am-môn làm việc cực nhọc (IISa 12:31). Vua A-ma-xia đánh thắng Ê-đôm bắt 10.000 người Sê-i-rơ đem lên trên chót hòn đá, rồi xô xuống cho chết hết (IISử 25:12). Ba nước Y-sơ-ra-ên, Giu-đa và Ê-đôm liên minh với nhau, hiệp lại đánh dân Mô-áp: phá các thành, lấp các ruộng màu mỡ, bịt các nguồn nước, và đốn những cây tốt (IICác 3:25). Khi đó, trẻ con, trai gái thường bị giết chết, song thỉnh thoảng cũng có người được hậu đãi, như vua A-háp hậu đãi vua nước Sy-ri, lập giao ước rồi để cho về (ICác 20:34), hay vua Y-sơ-ra-ên hậu đãi quân Sy-ri: cho ăn no rồi thả cho về (IICác 6:23).
4. Kết thúc cuộc chiến tranh.
Nước bại trận lập hòa ước với nước chiến thắng, như vua A-háp lập giao ước với Bên-ha-đát bằng cách trả lại đất đã chiếm được của Y-sơ-ra-ên và cho lập phố chợ tại Đa-mách (ICác 20:34). Nếu người ta không giết kẻ phu tù, thì cũng đòi đền bằng tiền (IICác 18:14).
5. Tiên tri luận về chiến tranh.
Trước nhứt, các tiên tri không cho chiến tranh là đáng ghét; trái lại, họ còn cổ động nhân dân chống cự quân nghịch: Nữ tiên tri Đê-bô-ra sai người chống cự Si-sê-ra (Quan 4:4-9). Tiên trISa đem dân chúng đánh người Phi-li-tin (ISa 7:3-12). Các tiên tri đời sau khi bàn về chiến tranh đều thay đổi so với trước. Họ coi chiến công chẳng những là sự kiện lịch sử và là chính sách của quốc tế, mà còn cho đó là ý chỉ của Chúa để giáng hình phạt và tỏ ý răn đe. Trong đời tiên tri của các tiên tri thường có nói trước ngày Đấng Mê-si giáng lâm, ắt có chiến tranh lớn và tai nạn lớn (Ês 13:16-18; Giê 4:9-17).
Các tiên tri được Đức Thánh Linh cảm động, biết chiến tranh là việc Chúa không đẹp lòng, nên thường mô tả nước Chúa ắt không có chiến tranh. Khi nói tiên tri, các tiên tri đã có hy vọng đến Đấng Mê-si giáng lâm, làm vua hòa bình (Ês 9:6): các nước bình an không đánh nhau, không chuộng võ bị (Ês 2:4). Thú rừng, rắn, rết, đều hiền lành, không hại người cũng không làm hại vật (Ês 11:6-8). Lời tiên tri này có ý dạy dỗ gì trong việc mở đường cho sự giáo huấn cao sâu của Chúa? – Chính là nói về tình yêu! Có vậy mới biết tinh thần tôn chỉ đạo Chúa Jêsus đã phản đối chiến tranh từ lâu rồi.
II. Đời Tân Ước.–Tân Ước ít nói đến chiến tranh. Xét bốn sách Tin-lành chỉ có vài lần nhắc tới quân nhân, như quân lính hỏi Giăng Báp-tít rằng: “Chúng tôi phải làm gì?” (Lu 3:14). Chúa Jêsus có thí dụ về chiến tranh rằng trước hết phải ngồi bàn luận đã (Lu 14:31). Ngài lại nói tiên tri rằng: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình đừng bối rối” (Mat 24:6). Phao-lô thường dùng quân lính với chiến tranh để làm nghĩa bóng về tín đồ với cõi thuộc linh (ITi 1:18; IITi 2:4; Êph 6:11-17), phần nhiều ông chỉ mượn chiến tranh làm thí dụ, chứ ít bàn luận kỹ về khía cạnh này. Vì Chúa Jêsus cốt lấy sự yêu thương làm khuôn phép để dạy dỗ, nó thật tốt đẹp và đầy đủ hơn sự dạy dỗ của người xưa (Mat 5:44). Chúa phán: “Phước cho những kẻ nhu mì! Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận (Mat 5:5-9). Ngài dạy người rằng: “Nước Cha được đến, ý Cha được nên, ở đất như trời!” (Mat 6:7-13). Theo như lời tiên tri của các tiên tri, thì nước Chúa thuộc về hòa bình, lại có Đấng Christ làm Vua Bình-an; cho nên nói rằng: “Bình-an dưới đất, ân trạch cho loài người!” (Lu 2:14). Chúa Jêsus quở trách Phi-e-rơ rằng:”Hễ ai cầm gươm thì sẽ chết vì gươm” (Mat 26:52). Phao-lô nói:”Chúng tôi chẳng tranh chiến theo xác thịt” (IICôr 10:3-4). Gia-cơ nói:”Những điều chiến đấu tranh cạnh há chẳng phải tự tình dục sao?” (Gia 4:1-2). Nói tóm lại, chiến tranh thật trái với lý tưởng của Đấng Christ: đạo Ngài lấy yêu thương làm tôn chỉ. Ước mong toàn thế gian không còn chiến tranh, cùng hưởng vui sướng hòa bình.

Lên đầu trang