Cầu nguyện

Pray.
Cầu nguyện tức là đem ý muốn mình trình bày với Chúa một cách thiết tha. Bởi sự cầu nguyện, chúng ta cảm biết Chúa là một Ngôi vị, là Đấng có quyền sai khiến hoặc thay đổi được luật thiên nhiên. Vì Ngài có thể biến đổi tâm trí người ta, thay đổi mọi hoàn cảnh ở trên đời. Có vài câu ở vài đoạn trong Thi-thiên, người ta thường dùng làm bài cầu nguyện. Chúa Jêsus có đặt bài cầu nguyện để dạy môn đồ (Mat 6:9-13; Lu 11:2, 3, 4). Người nào chỉ lặp nhiều lần bài văn cầu nguyện, mà không thành tâm thì cũng vô ích (Mat 6:7).
I. Trong nguyên văn Cựu Ước có một vài chữ bày tỏ về ý cầu nguyện. (1) Có chữ thường dùng như “cắt”. Vì ngày xưa cắt thịt làm của lễ: sau người ta muốn dùng chữ “cắt” đó để tỏ ý mình phải xưng tội mới dám giao thông cùng Chúa. (2) Có chữ giống chữ “kêu” — kêu cầu danh Chúa (Sáng 4:26; Quan 3:9), kêu cầu Chúa trong cơn hoạn nạn. (3) Có chữ như chữ “tìm kiếm”: “Hãy tìm kiếm ta thì các ngươi sẽ sống” (Am 5:4). “Chúng nó sẽ cố tìm ta” (Ôs 5:15). “Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được” (Ês 55:6). (4) Có chữ như chữ “dốc lòng” (Thi 62:8; Ca 2:19): nên mở lòng trước mặt Chúa.
II. Nguyên văn Tân Ước có ba từ quan trọng bày tỏ về ý cầu nguyện: (1) Có chữ như chữ “sùng bái” được dùng trong Tân Ước đến hơn một trăm mười lần. (2) Có chữ như chữ “tâm giao” thì chỉ chép có một hai lần, như ITi 4:5. (3) Có chữ giống chữ “khẩn cầu” dùng ngót hai mươi lần, như Mat 9:38; Lu 10:12; 21:36; 22:32; Công 1:14; 4:31; 8:22, 24; 10:2; IICôr 5:20; 8:4; Êph 6:18; Phil 4:6; ITê 3:10; ITi 2:1; 5:5. Chữ “khẩn cầu” nầy có ý gấp rút như nửa đêm gõ cửa mượn bánh (Lu 11:5-8) và như bà góa với người quan án không công bình Lu 18:1-5). Cũng có một chữ như chữ “chiến đấu” (Rô 15:30), ý nói phải hết sức mà cầu nguyện.
III. Cựu Ước nói về sự cầu nguyện của con người ở mỗi thời đại như sau:
1. Thời đại tộc trưởng.– Có bốn kiểu cầu nguyện: (a) Đối mặt nói chuyện với Chúa (Sáng 15:2, 3, 7, 8; 17:15). (b) Cầu nguyện thay cho người khác (Sáng 17:18; 18:23-32). (c) Cầu nguyện cho nhà mình (Sáng 32:11; 43:14). (d) Hứa nguyện cùng Chúa (Sáng 14:22, 23; 28:20, 21).
2. Thời đại từ Môi-se đến Các quan xét.– Môi-se là bậc vĩ nhân trong sự cầu nguyện. Ông sốt sắng cầu thay (Xuất 3:1-; 4:1-; 5:22; 6:1, 10, 12, 28-30; Phục 3:23-26). Hễ gặp tai nạn hiểm nghèo, ông liền trình bày trước mặt Chúa (Xuất 5:22; Dân 11:11). Ông cũng có thể chúc phước cho dân chúng (Phục 33:6-11). Ngoài ra còn có Giô-suê vốn được Thánh Linh của Chúa cảm động (Dân 27:18). Khi gặp nguy cấp, ông thường sấp mình cầu Chúa (Giô 7:6-9; 10:12). Ghê-đê-ôn nói chuyện với Chúa (Quan 6:11-24). Dân Y-sơ-ra-ên hằng cầu Chúa cứu giúp họ (Quan 3:9, 15; 4:3; 6:6; 10:10).
3. Thời đại lập thành nước.– Sa-mu-ên thường cầu thay (ISa 7:5, 8, 9; 8:6; 12:23; 15:11; Giê 15:1). Vua Đa-vít giữ lệ thường cầu nguyện (ISa 23:2; 30:8; IISa 2:1; 5:23; 7:18-29; 12:16; 21:1; 24:17 và trong Thi-thiên của Đa-vít). Sa-lô-môn cầu nguyện cho mình và cho dân (ICác 3:5-10; 8:22-53). Ông lại xây đền thờ làm chỗ cho dân chúng cầu nguyện như có nói trong Ês 56:7. Khi gặp hoạn nạn hoặc đau ốm Ê-xê-chia đều cầu nguyện (IICác 19:15; 20:2). Ê-li là bậc vĩ nhân trong cầu nguyện (ICác 17:21; 18:36; Gia 5:17, 18). Ê-li-sê cầu nguyện cho có sức mạnh (IICác 4:33; 6:17). Các tiên tri thường thường cầu nguyện (Ês 63:15-17; 64:8-12; Giê 17:14; 20:7-13; 42:4; Am 7:2, 5; Ha 3:1, 2).
4. Thời đại bị bắt làm phu tù.– Đa-ni-ên bền đỗ cầu nguyện thay cho dân (Đa-ni-ên 6:10; 9:4-19). E-xơ-ra và Nê-hê-mi cũng cầu nguyện như vậy (Exơ 9:5-15; Nê 1:4-11; 9:5-38).
5. Thời đại làm xong Thi-thiên.– Trong các Thi-thiên, có bài làm sớm, có bài làm muộn. Những thơ làm sớm hơn hết ở đời Môi-se (Thi 90:1-); còn những thơ làm muộn thì là ở lúc đã từ Ba-by-lôn về (Thi 137:1-). Song, dù làm sớm hay làm muộn, các thơ đều nói nhiều về sự cầu nguyện, có thể nói gần như đó là một cuốn sách “Cầu nguyện”. Trong sách Châm Ngôn cũng thường nói về cầu nguyện (Châm 15:8, 29; 28:9; 30:7, 8, 9). Sách Gióp chép Gióp chán mình và tự ăn năn, cầu Chúa chỉ bảo cho mình (Gióp 42:1-6).
IV. Tân Ước nói về sự cầu nguyện như sau:
1. Gương sáng của Chúa Jêsus.– Chúa giữ lệ thường cầu nguyện, ngày ngày tâm giao với Đức Chúa Cha. Hễ gặp việc quan trọng, Ngài liền ngước lên trời mà cầu nguyện (Lu 3:21; 6:12; 9:16, 29; 22:39-46; 23:46; Mác 7:34; 9:29; Giăng 9:30-33; 11:41, 42; Mat 27:46). Ngài cũng cầu thay (Giăng 17:1-; Lu 22:32). Chúa dạy mọi người rằng: trước hết phải tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài (Mat 6:33), và cần phải có lòng khẩn thiết, giữ lòng khiêm nhường trong khi cầu nguyện (Lu 11:5-13; 8:1-14). Cũng nên có tấm lòng rộng rãi tha thứ (Mác 11:25; Mat 6:15; 5:23, 24), nên cầu nguyện nơi nhà riêng và đừng lặp đi lặp lại nhiều lời (Mat 6:6, 7). Cần nên thực lòng tin Chúa (Mác 11:23) và hiệp một nhơn danh Chúa mà cầu nguyện. Như vậy, lời cầu nguyện sẽ được Chúa nhậm (Mat 18:19, 20; Giăng 14:13; 15:16; 16:23, 24, 26).
2. Lời dạy của các Sứ đồ– Sứ đồ được cảm động bởi Đức Thánh Linh, tìm kiếm sự ích lợi về phần thuộc linh (Rô 8:14-16; Êph 6:18; Giu 20). Đức Thánh Linh ngự trong lòng ta, cầu nguyện thay ta (Rô 8:26). Nhờ Đấng Christ, người ta được giao thông cùng Chúa (Êph 2:18; 3:12; Hêb 4:15, 16; 10:19-22), Đấng Christ nay cũng thay ta mà cầu nguyện (Rô 8:34; Hêb 7:25). Nhưng, khi cầu nguyện, ta nên dốc lòng tin, đừng nghi ngờ (Gia 1:6, 7, 8; ITi 2:8; Hêb 10:22). Lại phải vâng giữ điều răn của Chúa mới có thể dạn dĩ cầu nguyện với Ngài (Giăng 3:21, 22). Sứ đồ cho cầu thay là việc thường làm (Rô 10:1; IICôr 13:7; Êph 1:16; 3:14; Phil 1:4, 9; ITê 1:2; IITê 1:11; Philm 4), thường khuyên tín đồ nên bền đỗ cầu nguyện (Rô 12:12; Phil 4:6; Cô 4:2; ITê 5:17; IIPhi 4:7). Cần nhớ cầu thay cho người khác (Công 12:5; Rô 15:30; IICôr 1:11; 9:14; Cô 4:3; IITê 3:1; Philm 22; Hêb 13:18; Gia 5:16). Nói tóm lại, cứ là tín đồ, bất luận nam hay nữ, đều nên để sự cầu nguyện lên trên hết mọi việc (Công 1:14; ITi 2:8; 5:5).
V. Thời gian, nơi chốn và hình thức cầu nguyện.– Chúa ngự khắp trời đất và vũ trụ (Giê 23:24), không nơi nào Ngài không hiện diện. Vì thế dù ở đâu cũng có thể dùng làm chỗ cầu nguyện Ngài (Sáng 24:12; 32:9; Thi 42:6; 61:2; Đa-ni-ên 6:10; Lu 6:12; Giăng 4:21-23). Tuy vậy, người ta có lập nơi đặc biệt để cầu nguyện chung như Si-lô, Mích-ba và Ga-ba-ôn (ISa 1:9, 10; 7:5; ICác 3:4). Về sau thì nơi cầu nguyện chung ở đền thờ Giê-ru-sa-lem (Ês 37:14, 15; 56:7; Lu 18:10; Công 3:1). Sau nữa lại là các nhà hội ở các thành. Nếu không có nhà hội thì hẹn nhau định một chỗ làm nơi cầu nguyện (Công 16:13, 16). Hội Thánh Đấng Christ ban đầu dùng căn phòng hoặc ngôi nhà bình thường làm nơi cầu nguyện chung (Công 1:13, 14; 4:23, 24; 12:12; Cô 4:15). Ngày xưa, người yêu mến Chúa mỗi ngày phải cầu nguyện ba lần (Đa-ni-ên 6:10): giữa trưa (Công 10:9), khoảng ba giờ chiều (Công 3:1; 10:30) và buổi tối (Thi 22:2; 55:17). Trước khi ăn cơm cũng cầu nguyện tạ ơn (ISa 9:13; Mat 15:36; Công 27:35).
Còn hình thức cầu nguyện thì không bắt buộc: hoặc đứng (Sáng 18:22, 23; ISa 1:26; ICác 8:22; Nê 9:5; Mác 11:25; Lu 18:11, 13), hoặc quì (Thi 95:6; Ês 45:23; Exơ 9:5; ICác 8:54; Đa-ni-ên 6:10; Lu 22:41; Công 7:60; 9:40; 20:36; 21:5; Êph 3:14), hoặc sấp mình (Xuất 34:8; Nê 8:6; Thi 95:6; Mat 26:39), hoặc giơ hai tay như đón lấy ơn trời (Thi 28:2; 63:4; 134:2; Ca 2:19; 3:41; ITi 2:8). Tóm lại, dầu ở hình thức nào, hễ ai giao thông cùng Chúa thì phải tin rằng có Ngài và Ngài là Đấng hay thưởng cho người tìm kiếm Ngài (Hêb 11:6).
Tiến sĩ Scofield chú thích về cầu nguyện (Ha 3:1) như sau nầy: Sự cầu nguyện trong Cựu Ước khác với sự cầu nguyện trong Tân Ước về hai phương diện: (1) Trong Cựu Ước, nền tảng của sự cầu nguyện là lời giao ước với Chúa, hoặc nhờ đặc tánh của Ngài đã được tỏ ra, như hay thương xót, hay ban ơn, v.v…. Trong Tân Ước nền tảng của sự cầu nguyện là sự tâm giao: “Hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời” (Mat 6:9). (2) Khi so sánh lời cầu nguyện của Môi-se và Phao-lô, thì Môi-se cầu nguyện cho một dân thuộc về đất, về những mối nguy hiểm và những ơn phước của dân ấy thuộc về đời tạm; còn Phao-lô cầu nguyện cho một dân thuộc trên trời, và những nỗi nguy hiểm và ơn phước của dân ấy về cõi thuộc linh.
Tiến sĩ Scofield lại chú thích (Mi 7:7) rằng: Nội dung Mi 7:7-20, trước hết là lời xưng tội và cầu thay cho mình hiệp với một Y-sơ-ra-ên (tham khảo 9:3-19). Sự cầu thay là một bằng cớ của chức vụ tiên tri (Giê 27:18; Sáng 20:7). Về sau lời cầu nguyện của Mi-chê bày tỏ những lời kêu cầu của dân Y-sơ-ra-ên trong những ngày sau rốt: Đó là việc của tiên tri, nghĩa là chép xen lẫn sự xa với sự gần (Thi 22:1; Mat 27:46). Tiến sĩ Scofield chú thích (Lu 11:13) rằng: Câu nầy bày tỏ rằng, có lẽ ngoài bà Ma-ri ở Bê-tha-ni, không có môn đồ nào tin đến lời hứa nầy mà xin ban cho Đức Thánh Linh. Mỗi người đều có thể nhận lãnh Đức Thánh Linh, dầu Giôên 2:28, 29 chưa được ứng nghiệm, ấy là sự rất mới lạ cho người Do-thái. Trong các môn đồ chỉ có bà Ma-ri hiểu thấu những lời Chúa phán nhiều lần về sự Ngài chết và sống lại (Giăng 12:3-7). Trừ Ma-ri ra, trong các môn đồ chỉ có ông Phi-e-rơ có lần xưng Chúa Jêsus là Đấng Christ (Mat 16:17), –tỏ ra mình hiểu đôi chút về phần thuộc linh, trước khi Chúa chưa sống lại và Đức Thánh Linh được ban cho (Giăng 20:22; Công 2:1-4). Nếu chỉ nhờ lời hứa trong Lu 11:13, thì bỏ quên Lễ Ngũ Tuần, và không hiểu về lẽ đạo là mỗi tín đồ thật của Chúa chắc chắn có Đức Thánh Linh ngự trong mình (Rô 8:9, 15; ICôr 6:19; Ga 4:6; IGiăng 2:20, 27). (Hãy xem bài Đức Thánh Linh về Công 2:4 của ông Scofield).

Lên đầu trang