Bình an hoặc Bình yên Peace.
Cựu Ước nói bình an, có ý là yên lành, cũng có nghĩa là mọi việc được vừa ý (Sáng 43:27). Về mặt tôn giáo, khi nói bình an là gồm ba ý chính:
1. Chào thăm và chúc phước người khác, nguyện Chúa ban cho bình an (Sáng 43:23; I Sa-mu-ên 1:17; Thi 122:7, 8 coi thêm Mat 10:12, 13). Đấng Mê-si lập thiên quốc ở thế gian, đem lại nguồn phước rất lớn là sự bình an (Thi 72:3-7; Ês 2:4; 9:5, 6; 11:6-9; Aghê 2:9; Xa 9:10). Chúa hòa thuận với dân Ngài, lập giao ước bình an với thầy tế lễ (Dân số ký 6:26; Thi 29:11; 85:8; 122:6; Giê 16:5; Dân 25:12; Mal 2:4, 5).
Ý nghĩa của bình an trong Tân Ước giống với Cựu Ước. Trong hơn chín mươi chỗ nói về hai chữ bình an, trừ tám, chín chỗ ra, còn mọi chỗ khác thì ý nghĩa chỉ về bình an trong lòng người . Thơ tín Tân Ước, trong lời chào thăm chúc phước, phần nhiều nói nguyện anh em được bình an (Coi Mác 5:34; Lu 7:50; 24:36; Giăng 14:27; Gia 2:16). Lời chào thăm chúc phước gồm tóm cả hai chữ bình an; mà sự bình an (chỉ về hạnh phước và ân điển) mà người ta đã được đó là do Đức Chúa Trời ban cho con người qua Đấng Christ . Lu 1:79; 2:14; Mat 10:34, v.v., cũng có nói về bình an do Đấng Mê-si ban. Giăng 16:33; Công 10:36; Rô 8:6; 15:33; Phil 4:7 v.v…, cũng có nói về sự bình an khi con người phục hòa với Chúa. Trong Tân Ước, Phao-lô nói về sự bình an là rõ ràng nhất (Rô 5:1-11). Chữ bình an trong nguyên văn Hy-lạp có thể dịch là phục hòa (IICôr 5:18-21; Êph 2:13-18; Cô 1:20). Những ai nương cậy Con yêu dấu của Đức Chúa Trời mà phục hòa với Ngài, thì sự thù nghịch bị tiêu diệt, svà trong lòng nhờ Chúa được bình an (Êph 2:16).