Bánh Bread.
Là món ăn hằng ngày của người Hê-bơ-rơ, do vậy nên ngày nào họ cũng ay bột và nướng bánh. Công việc nầy là phận sự của phụ nữ, nhà nào giàu sang thì có đầy tớ làm thay. Dẫu có biết cách dùng men nhưng khi nào làm bánh để ăn ngay thì không cho men vào bánh (Sáng 19:3; Mat 13:33). Họ làm bánh bằng lúa mạch lớn hoặc lúa mạch nhỏ. Người nghèo hay dùng lúa mạch lớn vì giá nó rẻ (Quan 7:13; Giăng 6:9). Cũng có khi làm bánh bằng đậu và kê (Êxê 4:9). Cách trộn bột, hấp bánh cũng giống nước ta: dùng nồi hay chảo thay cho lò nướng, đặt bánh sống trong đó, rồi đốt than hoặc chụm củi để nướng (ICác 17:12; 19:6; Ês 44:15; Ôs 7:8).
Ở thành Giê-ru-sa-lem xưa có phố hàng bánh (Giê 37:21). Các cửa hàng chẳng những làm bánh để bán, mà cũng nướng bánh giùm cho những người dân quê nữa. Bánh đối với người Hê-bơ-rơ cũng như cơm đối với người Việt nam. Chữ bánh trong Ês 3:1; Êxê 4:16; Sáng 41:54 được dịch theo nguyên văn. Ê-xê-chi-ên chép: “Cân bánh mà ăn” là ý nói tiên tri sẽ có đói kém (Êxê 4:16; Lê 26:26). Đa-vít vì thương tiếc Áp-ne, thề không ăn bánh trước khi mặt trời lặn (IISa 3:35). Giăng Báp-tít, vì sửa mình, không ăn bánh, nhưng ăn mật ong rừng (Lu 7:33). Thuở xưa, du nhà là một cái trại nhưng hễ thấy khách lỡ đường thì mời ở lại đãi bánh (Sáng 14:18; 18:5; Ês 21:14). Về sau người Hê-bơ-rơ ở trong nhà cũng giữ theo lệ đó. Vì vậy mà khi Chúa Jêsus sai môn đồ đi truyền đạo, có dặn họ đừng đem bánh đi (Lu 9:3). Khi ăn bánh thì lấy tay bẻ, chớ không dùng dao cắt (Mat 14:19:1- Lu 22:19; Công 27:35). Vì vậy, môn đồ gọi lễ tiệc thánh là lễ bẻ bánh (Công 2:42, 46; 20:7; ICôr 10:16; 11:23).
Có khi người ta không nướng bánh trong lò, mà nướng ở trên các hòn đá phơi ngoài nắng. Thỉnh thoảng phải trở bánh cho chín đều. Trong Ôs 7:8 chép “Ép-ra-im là bánh chưa quay” nghĩa là một bên chín một bên chưa, có thể làm hình bóng về tín đồ bề ngoài sốt sắng, bề trong nguội lạnh, có lẽ giống như Giê-hu (ICác 16:1-7) tỏ ra lòng sốt sắng cho Chúa song chính là mưu lợi cho mình.