Át-tạt-tê Ashtoreths. Astarté.
(Thần mặt trăng mới, Quan 2:13; và nữ vương trên trời, Giê 7:18). Còn có tên khác là A-sê-ra (Asherahs; Ashéra), do tiếng Hê-bơ-rơ mà ra, nghĩa là “Rừng nho”, có khi dịch là “Thần Rừng”. Và thêm một tên khác nữa là Ba-anh (Bahalins), nghĩa là “Nhiều tà thần”.
I. Cũng như Ba-anh là nam thần, Át-tạt tê là nữ thần đứng đầu của người Si-đôn, xứ Phê-ni-xi. Về sau, sự thờ lạy nữ thần nầy cũng tràn vào trong dân Y-sơ-ra-ên và dân Phi-li-tin, (Quan 2:13; 3:7; 10:6; ISa 7:3; 12:10; 31:10). Họ nói thần đó linh thiêng ở hai điều: mùa hạ khiến cho đất sanh cây cỏ tốt tươi và mùa đông làm cho lá xơ xác, trơ trụi. Sa-lô-môn đã vì thần đó mà xây bàn thờ, làm hình tượng (ICác 11:5, 33); về sau vua Giô-si-a đã phá hủy đi hết (IICác 23:13).
II. Tên một thành, tức là đất của Óc, vua Ba-san (Phục 1:4; Giô 9:10; 12:4; 13:12, 31). Trong thành nầy còn sót lại ít người là giống cao lớn từ xưa. Thành nầy ở vào địa phận của nửa chi phái Ma-na-se (Giô 12:4; 13:12, 31). Về sau, giống người Ghẹt-sôn được ở đất thành đó (ISử 6:71).