Ấn

Ấn Nghĩa là con dấu.

Cái ấn mà Kinh thánh nói đến lần đầu tức là con dấu, đây là cây gậy của Giu-đa đưa cho nàng Ta-ma làm của tin (Sáng 38:18). Thuở xưa, Ai-cập và Ba-by-lôn đều dùng cái ấn: kẻ giàu sang thì làm bằng bửu thạch hoặc vàng, bạc, người nghèo khổ thì làm bằng đá hoặc đất. Cái ấn tức là cái nhẫn đeo tay trên mặt có cái ấn, khi nào đóng dấu, thì người ta tháo ra mà đóng để làm bằng chứng. Hình thức cái ấn của người Hê-bơ-rơ giống cái vòng, nhưng phía trên lưng thì tròn: người ta đeo ở ngón tay bên phải (Giê 22:24; Sáng 41:42; Êxơ 3:10; Nhã 8:6). Trên ấn có khắc tên mình hoặc các câu cách ngôn (IITi 2:19), hoặc hình sư tử, hoặc hình cái khiên. Khi khắc, người ta dùng bút sắt hoặc dùi kim cương mà chạm trổ (Giê 17:1). Người ta dùng ấn trong nhiều việc lắm: giữ của quí (Phục 32:34); giữ cách giấu kín (Đa-ni-ên 12:4; Khải 5:1); việc công, việc tư đều đóng ấn để làm tin (Giê 32:10). Như niêm phong cửa, niêm phong ruộng và lưu trữ giấy tờ văn tự (thuở xưa người ta chưa biết chế giấy, nên thường viết trên tấm đất sét, viết xong thì lấy ấn đóng dấu như ta ký) những việc quan trọng để về lâu dài, người ta phải đóng ấn hết (ICác 21:8; Gióp 38:14; Khải 6:3). Ở Đa-ni-ên 6:17 nói Đa-ni-ên bị liệng xuống hang sư tử, trên cửa hang có chắn đá và đóng ấn. Mat 27:66 chép Chúa Jêsus an táng ở mả mới cũng có đá chắn và niêm phong lại. Hai nơi đó có lẽ được làm như vầy: Trước hết chắn đá, rồi lấy bùn trét, sau cùng đem ấn đóng lên. Trong Kinh thánh thường dùng ấn làm thí dụ (Giăng 6:27; ICôr 9:2; IICôr 1:22; Êph 4:30; Rô 4:12).

Về hai tiếng “ấn chứng” trong Êph 1:13, Tiến sĩ Scofield có lời ghi chú rằng: Chính Đức Thánh Linh là ấn chứng đó. Trong Kinh Thánh cái ấn hay làm hình bóng (1) về việc đã được xong (Giê 32:9, 10; Giăng 17:4; 19:30); (2) về quyền sở hữu (Giê 32:11, 12; IITi 2:19); (3) về sự giữ chắc chắn (Êxơ 8:8; Đa-ni-ên 6:17; Êph 4:30).

Lên đầu trang