A-si-ri Assyria.
Cũng đặt tên là: A-su-rơ (Dân 24:22) và A-su (Dân 24:24) Assyrie (Tiếng gốc là Aushar: Đồng bằng có thủy lợi).
Tên một nước đời thượng cổ. Theo Kinh Thánh, thì Nim-rốt từ Si-nê-a đến A-si-ri, xây thành Ni-ni-ve (Sáng 10:11). Ban đầu, bờ cõi xứ đó rất nhỏ hẹp, sau mở rộng dần. Kinh đô nó tên gọi A-si-ri, xây ở trên bờ sông Hi-đê-ke (Sáng 2:14). Bốn mùa khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, sản vật nhiều, dân cư đông đảo.
Về thực vật: ở núi thì có bàng, dương, thông, cao su và các cây dùng lấy gỗ. Ở đồng nội thì có vả, ô-li-ve, nho, v.v.. Trong vườn cây trái còn có chanh, táo, quýt, lựu, hạnh nhơn, đậu. Vườn tược thì có lúa mì, đậu, dưa, hành, tỏi, v.v.. Về động vật: loài thú thì có sư tử, hươu, heo, thỏ. Gia súc có trâu, lừa, dê, chiên, chó, chỉ duy không có ngựa và lạc đà thôi. Chim thì có ó, hạc, én, chim cút, bồ câu, quạ, vịt, v.v.. Loài ở nước thì có nhiều thứ cá lắm. Còn khoáng vật thì có nhiều đá trắng và đá màu tro. Các đồ vật và hình tượng bằng đá có chạm trổ là nhiều hơn hết.
Giống dân đó nguyên là con trưởng nam của Nô-ê, dòng dõi của Sem (Sáng 10:1), cùng họ hàng với hai giống Sy-ri và Phi-li-tin. Sau khi lập quốc, xứ A-si-ri liền bị xâm chiếm bởi thế lực của nước Ba-by-lôn.
Ngoài sự thờ phượng thần nước A-si-ri ra, tôn giáo và văn hóa xứ nầy đều do nước Ba-by-lôn chế ngự cả.
Chinh thể thì hoàn toàn là chinh thể quân chủ: Hết thảy quân lính và cả nhân dân đều bị cai trị dưới tay một người là ông vua. Về văn học, xứ đó ưa chuộng môn lịch sử nhất.
Người ta có tìm được ở nước đó những tấm bia đời thượng cổ có khắc tên mấy vua nước Y-sơ-ra-ên như Ôm-ri, A-háp, Ô-sê, v.v.. Lễ kỷ niệm do họ sáng tạo ra, các nước phía tây A-si-ri đều bắt chước làm theo. Tiếng nói dân đó hơi giống tiếng Hê-bơ-rơ; văn tự ban đầu là lối tượng hình. Nhưng dân đó mạnh dạn, tánh dữ tợn, thường hăng hái đánh nhau. Coi Ês 33:19, thấy họ lại có tánh cường bạo, thích đi cướp bóc các dân tộc. Cướp được các đồ vật quí báu, thì họ nâng niu, gìn giữ kỹ càng.
Về công nghệ, họ ít nghiên cứu vì hai lý do: một là vì họ thường mài miệt trong cuộc chinh chiến, không có thì giờ đề xướng công nghệ; hai là vì quen dùng đồ ngoại hóa để bù vào những chỗ thiếu thốn. Do đó, mối lợi lần lần phải lọt vào tay ngoại quốc. Ông vua xứ đó có tính hiếu chiến, nhưng vì kém tài thao lược, nên lúc xuất trận phải hao binh tốn của rất nhiều. Bởi đó nước phải suy vong.
A-si-ri lập nước từ xưa, ngang với các nước Ai-cập, Ba-by-lôn và Trung-hoa. Mấy đô thị lớn của nó đã trở nên hoang tàn, không còn dấu vết của lịch sử nữa. Người đời hầu như không biết đến nó là nước rất cổ xưa. Dù sách tiên tri và sách Sử-ký trong Cựu Ước có chép về nước A-si-ri, nhưng chỉ dề cập đến những điều liên quan về mặt quốc tế với nước Y-sơ-ra-ên thôi.
Các vua A-si-ri chuyên đi chinh chiến trải vài trăm năm: hễ cướp được mảnh đất nào thì họ thường di dân đến ở chỗ ấy; còn dân dị tộc thì họ cho ở riêng nơi bờ cõi lân cận. Như Kinh Thánh có chép: “Vua A-si-ri đem dân Y-sơ-ra-ên qua A-si-ri, đặt tại Cha-la và trên bờ cõi Cha-bo, sông xứ Gô-xan, cùng trong các thành của Mê-đi” (IICác 17:6, 24; 18:11), nghĩa là đề cập về việc đó. Mê-na-hem, vua Y-sơ-ra-ên có hối lộ vua A-si-ri để nước mình được khỏi bị chinh phạt (IICác 15:29). A-cha, vua Do-thái, hối lộ vua A-si-ri để vua ấy đánh chiếm Đa-mách, giết vua nó là Rê-xin, và bắt dân nó đem sang Ki-rơ (IICác 16:8, 9). Ô-sê, vua Y-sơ-ra-ên, đã thuần phục và đóng thuế cho vua A-si-ri. Về sau có ý đồ phản loạn, nên bị A-si-ri xiềng lại và hạ ngục rồi chiếm đoạt nước (IICác 17:3-6). Nước Ách-đốt và nước Ai-cập mưu tính đánh A-si-ri. Vua A-si-ri bèn đánh họ trước, chiếm lấy nước Ách-đốt, đặt làm huyện (Ês 20:1). Trong khi Ê-xê-chia làm vua nước Do-thái, vua A-si-ri đánh nước Do-thái, hạ được bốn mươi sáu thành, bắt hai mươi vạn một trăm năm mươi người làm phu tù rồi đày đi nơi xa; lại bắt vua Ê-xê-chia phải trả ba trăm ta-lâng bạc và ba mươi ta-lâng vàng (IICác 18:13-16). Không bao lâu, vua A-si-ri lại đánh thành Giê-ru-sa-lem. Cứ như Kinh Thánh chép, thì có thiên sứ đi đến trong dinh A-si-ri, giết một trăm tám mươi lăm ngàn quân lính (IICác 19:35). Hết năm nầy qua năm khác, các vua A-si-ri đánh đông dẹp tây, không lúc nào ngừng. Họ đi đâu thì hát khải hoàn ca tới đó. Đến năm 606 T.C., thành Ni-ni-ve, kinh đô nước A-si-ri, bị nước Mê-đi và nước đồng minh nó hãm đánh rồi chiếm lấy. Từ đó nước A-si-ri lần lần suy đồi.