Yết Ha-mê-lách

Những điều đáng chú ý về lịch sử La-mã trong Kinh Thánh hạn chế trong một thế kỷ rưỡi cuối cùng của nền dân chủ, và thế kỷ thứ nhứt của nền quân chủ. Trong sách I Macchabée thuộc Apocryphe, chép độ 161 T.C., Judas Macchbée nghe về người La-mã đã thắng Philip, Perseus, và Antiochus, nên xin đồng minh với La-mã để có thể binh vực mình chống với Démetrius, vua Sy-ri. Giao ước đó sau lập lại bởi Jonathan và Simon (Macchbée). Trong năm 65 T.C., khi Pompey lập Sy-ri thành một tỉnh La-mã, thì người Do-thái còn được cai trị bởi một vua dòng Macchabée (cũng gọi là Asmonéens). Aristobulus trước đã đuổi anh mình là Hyrcanus (Macchabée) cách chức thầy cả thượng phẩm, và nay đến lược mình bị Aretas, vua Arabia Petraea, đồng minh của Hyrcanus đánh. Quan tướng của Pompey là Aemilius Scaurus, xen vào cuộc đánh nhau 64 T.C., và năm sau chính Pompey dẫn một đạo binh vào xứ Giu-đê và chiếm lấy Giê-ru-sa-lem. Từ đó, người Do-thái thật ở dưới quyền chính phủ La-mã. Hyrcanus cứ giữ chức tế lễ thượng phẩm và chức vua thực thụ, song phải phục quan thượng thư mình là Antipater, là người đại biểu quyền La-mã. Cuối cùng, con Antipater, là Hê-rốt lớn, nhờ Antony được lập làm vua năm 40 T.C., và nhờ César Auhuste chứng quyết cho mình cứ làm vua 30 T.C.. Khi vua A-chê-la-u bị đày đi năm 6 S.C. thì xứ Giu-đê chỉ là một phần thuộc tỉnh Sy-ri, và được cai trị bởi một quan tổng đốc La-mã ngụ tại thành Sê-sa-rê. Ấy là sự quan thiệp của dân Do-thái với đế quốc La-mã vào thời Tân Ước bắt đầu. Trong sự minh chứng về Kinh Thánh, cũng nên nói cách chung về chức phận hoàng đế La-mã, sự mở rộng đế quốc đó và sự cai trị các tỉnh trong đời Chúa và các Sứ đồ Ngài.

Lên đầu trang