5. Thuật về thời đại Giu-đa thuộc La-mã.– Khi Hê-rốt đại đế, con của Antipater, lên trị vì, vinh quang thành Giê-ru-sa-lem lại lớn hơn trong đời vua Sa-lô-môn. Hê-rốt đại đế xây cung điện rất nhiều trong có cung vua mới, rạp hát lớn, ba sở hộ vệ to; lại sửa sang xây dựng Đền thờ mới một cách đặc biệt. Năm 45 S.C., c-ríp-ba I làm vua chư hầu xây riêng một thành kiên cố ở phía Bắc thành cũ. Khi con ông là c-ríp-ba II làm vua chư hầu lên trị vì (Công vụ các sứ đồ 25:; 26:), thì việc làm nhà ở bốn phía Đền thờ đã xong. Năm 66 S.C, người Giu-đa dấy lên nghịch cùng La-mã; La-mã bèn đem quân đến đánh dẹp. Năm 70 S.C., thành Giê-ru-sa-lem bị quân La-mã vây ròng rã 143 ngày: thành và Đền thờ đều bị hủy hết! Người Giu-đa phải tản lạc ra khắp các nước. Sau đó hơn 60 năm, không còn một dân cư nào ở lại trong thành trừ ra một đội quân lính La-mã đóng giữ. Năm 136 S.C., La-mã lại xây một thành lên trên thành Giê-ru-sa-lem cũ, đổi tên là AElia Capitolina. Họ xây một cái miếu thờ thần Giu-bi-tê lên trên nền cũ Đền thờ xưa, và cấm người Giu-đa không được vào thành đó. Mãi đến năm 333 S.C., La-mã mới cho phép người Giu-đa mỗi năm được một lần vào khóc suốt một ngày ở nền cũ Đền thờ. Năm 312 S.C., vua La-mã, là Constantin, thờ phượng Chúa Jêsus, lập đạo Ngài làm quốc giáo. Từ đó mới hằng có tín đồ Đấng Christ tới thăm viếng Giê-ru-sa-lem, xem chỗ Chúa Jêsus chịu nạn. Vua Constantin cũng xây ở đó một cái nhà thờ đồ sộ, đẹp đẽ lắm. Năm 614 S.C., vua Phe-rơ-sơ phá hết nhà thờ của đạo Chúa Jêsus. Năm 637 S.C. Giáo chủ đạo Hồi hồi, tên là Omar. Đánh hãm được thành Giê-ru-sa-lem.