Có lẽ vì cần chống với A-sy-ri độ 720 T.C. mà người Mê-đi (ít nhứt một phần) hiệp một nước dưới Dẽiokẽs. Sa-gôn nói về vua đó gọi tên là Dayaukku, nói rằng chính mình đã bắt vua đó (715 T.C.), và chiếm xứ hai năm sau. Khi được thả ra, chắc Dẽiokẽs đã đắp đồn lũy cho Éc-ba-tan (E-xơ-ra 6:2) trước là Ellippi, và đóng đô tại đó. Có người cho rằng Hérodotus lẫn lộn Mê-đi đây với Mandã (hay Ưmman-Mandã, “các cơ binh của Mandã” trong bảng khắc (inscriptions); song có lẽ là chi phái Aryens, từ nguyên gốc người Sy-the, và hai tên Mãdã và Mandã có lẽ là một. E-sạt-ha-đôn năm thứ II đời trị vì (679-678 T.C.) và Assurbanipal tranh chiến cùng mấy chi phái Mê-đi, bấy giờ rất có thế lực. Những người đó (hay Mandã) đã xâm chiếm nước Ba-tư và lập một đồng minh rất lớn. Dưới Kyaxarẽs (cháu Dẽiokẽs), họ vây thành Ni-ni-ve, song Assurba niphl có Ashgazu giúp đỡ (người Ách-kê-na, Sáng thế ký 10:3), một chi phái Aryens khác, đánh đuổi đi. Cuối cùng của nước A-sy-ri đến, năm 606 T.C. thì dân Mandã dưới Irikatukte, với người Ba-by-lôn dưới Nabupalusur, v.v., xông tới và hủy diệt Ni-ni-ve. Vua cuối cùng của A-sy-ri, Sin-sar-iskun (Sarakos), bị giết cùng với dân sự.