Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời
Giăng đặc biệt nhấn mạnh vào thần tánh của Đức Chúa Jêsus. Sách Tin Lành của ông phần lớn gồm những bài giảng dạy và cuộc đàm thoại của Đức Chúa Jêsus. Sách chép những lời Đức Chúa Jêsus phán hơn là những việc Ngài làm. “Những ông khác lo ghi chép, còn Giăng lo giải thích.”
Tác giả
Tác giả không nói mình là ai; mãi đến cuối sách (Gi 21:20-24), ông mới nói rằng mình là “môn đồ mà Đức Chúa Jêsus yêu,” tức là Sứ đồ Giăng, người bạn thân thiết nhứt của Chúa. Cho tới ngày phái phê bình kim thời dấy lên, thì truyền thoại thời xưa và ý kiến liên tục theo sau truyền thoại đó vẫn công nhận Giăng là tác giả. Chính giới phê bình chối sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus do nữ đồng trinh, thần tánh Ngài và sự phục sanh của thân thể Ngài, cũng đã căn cứ giả thuyết của mình trên lời cổ thời, mơ hồ và khả nghi, đề cập đến một người tên là “Giăng, trưởng lão;” vậy,họ nhảy lên vì suy luận rằng tác giả không phải là Sứ đồ Giăng, mà là một Giăng khác ở Ê-phê-sô. Lẽ tự nhiên, giả thuyết nầy làm mất giá trị của sách nầy, khiến nó không còn làm chứng rằng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời nữa. Lý thuyết trên dựa vào bằng cớ quá mỏng manh và ý muốn làm mất giá trị của sách Tin Lành Giăng quá rõ rệt đến nỗi nó chẳng đáng cho tín đồ Đấng Christ xem xét cẩn trọng,và nó chỉ được đề cập ở đây vì là một tài liệu tuyên truyền “quí hóa”của một giới “học giả” ngày nay.
Niên hiệu.
Người ta thường cho rằng sách Tin Lành Giăng được chép khoảng năm 90 S.C..Trong bản dịch Kinh Thánh của Ferrar Fenton (Oixford Ấn quán),ông có phát biểu ý kiến rằng: Sách Tin Lành Giăng được chép đầu tiên trong cả bộ Tân Ước; thoạt tiên Giăng viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, sau khi Chúa sống lại ít lâu; ít năm sau, ông phát hành bản tiếng Hi-lạp, có thêm lời chú giải, và bản nầy là nguyên văn của hết thảy bản thảo còn lại tới ngày nay.
Ba sách Tin Lành cộng quan (Ma-thi-ơ,Mác, Lu-ca) đã lưu hành được ít năm rồi. Một số chi hội có bản sao của cả ba sách ấy. Sách Tin Lành Giăng có tánh cách bổ sung, cung hiến rất nhiều tài liệu quí báu hơn hết không có trong ba sách kia, và khiến ta nhìn thấy trí óc và tấm lòng của Đức Chúa Jêsus gần gũi hơn hết. Ông Schaff gọi sách Tin Lành Giăng là “văn phẩm quan trọng hơn hết từng được soạn thảo.”
Giăng
Cha của ông tên là Xê-bê-đê (Mat 4:21).Dường như mẹ của ông là Sa-lô-mê (Mat 27:56 Mac 15:40); nếu đối chiếu với Gi 19:25, thì bà nầy có thể là chị em của Ma-ri, mẹ Đức Chúa Jêsus. Nếu vậy, thì Giăng là anh em đôi con dì của Đức Chúa Jêsus, và vì ông sấp sỉ tuổi Chúa, nên chắc đã quen biết Ngài từ thời thơ ấu.
Giăng là một tay kinh doanh khá giả.Ông là một trong năm người hùn vốn làm nghề đánh cá khá lớn lao, có thể “mướn người làm thuê” (Mac 1:16-20). Ngoài cơ sở đánh cá ở Ca-bê-na-um, ông còn có nhà ở Giê-ru-sa-lem (Gi 19:27), và quen biết thầy tế lễ thượng phẩm (Gi 18:15,16).
Ông vốn là môn đồ của Giăng Báp-tít (Gi 1:35,40). Nếu ông là anh em đôi con dì của Đức Chúa Jêsus, như có ngụ ý trong những khúc Kinh Thánh kể trên kia, thì cũng có lẽ ông là bà con của Giăng Báp-tít (Lu 1:36), và chắc phải biết những lời thiên sứ báo tin liên quan đến Giăng Báp-tít và Đức Chúa Jêsus (Lu 1:17,32). Vậy, khi Giăng Báp-tít xuất hiện trên bờ sông Giô-đanh, kêu la rằng Nước Thiên đàng đã đến gần, thì Giăng, con trai của Xê-bê-đê, sẵn sàng chung một lập trường với ông.
Đến khi nghe Giăng Báp-tít làm chứng,thì ông lập tức trở thành môn đồ của Đức Chúa Jêsus (Gi 1:35-51). Giăng là một trong năm môn đồ đầu tiên của Chúa, và đã cùng Chúa trở về xứ Ga-li-lê (Gi 2:2,11).Lúc đó, dường như ông trở lại nghề đánh cá. Về sau, có lẽ chừng một năm, Đức Chúa Jêsus kêu gọi ông bỏ công cuộc kinh doanh mà đi theo Ngài khắp đó đây. Từ đó về sau, ông ở với Ngài luôn, nhờ vậy, chính mắt ông được chứng kiến mọi việc chép trong sách Tin Lành nầy.
Đức Chúa Jêsus đặt cho ông biệt hiệu là “Con trai của sấm sét” (Mac 3:17), dường như để ngụ ý rằng thiên tánh ông hăng hái, nóng nảy. Việc ông cấm người lạ dùng Danh Đấng Christ để trừ quỉ (Mac 9:38) và việc ông muốn xin lửa từ trời giáng xuống tiêu diệt người Sa-ma-ri (Lu 9:54), thật đã chứng minh thiên tánh ông một cách hào hứng.
Ông là một trong ba môn đồ thân cận nhứt với Chúa và được nhìn nhận là gần gũi Đức Chúa Jêsus hơn hết. Năm lần ông được xưng là “môn đồ mà Đức Chúa Jêsus yêu” (Gi 13:23 Gi 19:26 Gi 20:2 Gi 21:7,20).Chắc ông là người có những đức tánh hiếm lạ, nên mới được Đức Chúa Jêsus tâm giao như vậy.
Ông và Phi-e-rơ được nhìn nhận đứng đầu 12 Sứ đồ, và dầu hai ông có thiên tánh khác hẳn nhau, nhưng lại thường ở và đi chung với nhau (Gi 20:2 Cong 3:1,11 Cong 4:13 Cong 8:14).
Ông đã lấy Giê-ru-sa-lem làm nơi cư trú chánh khá lâu năm. Theo truyền thoại đáng tin, thì lúc cao tuổi, ông ở tại thành Ê-phê-sô. Người ta không biết chi hết về ông làm gì và đi đâu trong khoảng giữa hai thời gian ở Giê-ru-sa-lem và ở Ê-phê-sô. Tại Ê-phê-sô, ông sống rất lâu, viết sách Tin Lành, 3 thơ tín, và sách B (xem thêm ở dưới I Giăng).
Gi 1:1-3
Đức Chúa Jêsus hằng có đời đời và là Đức Chúa Trời
Khúc sách tuyệt diệu nầy nhắc ta nhớ mấy lời mở đầu sách Sáng-thế Ký. Đây Đức Chúa Jêsus được xưng minh bạch là “Đức Chúa Trời” và “Đấng Tạo Hóa” (xem ở dưới 7:1-53). Giăng nói rất quả quyết rằng Đức Chúa Jêsus là một Thân vị có từ đời đời. Đức Chúa Jêsus phán về “sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian” (Gi 17:5), dường như Ngài mong mỏi chấm dứt thời kỳ cư trú trên thế gian buồn tẻ mà trở về quê hương. Danh hiệu “Ngôi Lời” của Đức Chúa Jêsus có ngụ ý rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời tự tỏ mình cho loài người biết.
Gi 1:4-13
Đức Chúa Jêsus là Sự Sáng của thế gian
Giăng thường nghe Đức Chúa Jêsus phán như vậy (Gi 8:12 Gi 9:5 Gi 12:46). Đó là một trong những yếu điểm tư tưởng của Giăng đối với Đức Chúa Jêsus (IGi 1:5-7). Chữ “sự sáng” ứng dụng cho Đức Chúa Jêsus, thì có ngụ ý rằng Ngài là Đấng làm tỏ rõ ý nghĩa và số phận của đời người.
Gi 1:14-18
Sự thành nhục thể
Đức Chúa Trời trở nên một Người để dắt đem loài người trở về cùng Ngài. Đức Chúa Trời có thể dựng nên loài người có trực giác làm theo ý chỉ Ngài; nhưng trái lại, Ngài muốn ban cho loài người cái quyền tự định đoạt thái độ của mình đối với Đấng Tạo Hóa. Luật pháp sanh tồn thứ nhứt là người thọ tạo phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí kính mến Đấng Tạo Hóa. Nhưng Đức Chúa Trời là Thần; và loài người bị bao vây bởi những sự hạn chế của một thân thể vật chất, và chỉ có một quan niệm kém cỏi về Thần là Đấng thể nào. Vậy, Đấng Tạo Hóa ngự đến cùng loài người mà Ngài đã dựng nên, dưới hình thức một Người như họ, để ban cho họ một ý niệm về Ngài là Đấng thể nào. Đức Chúa Trời giống như Đức Chúa Jêsus.
“Con người”
Đây là danh hiệu mà Đức Chúa Jêsus ưa dùng để chỉ về Ngài. Danh hiệu nầy được dùng chừng 80 lần trong 4 sách Tin Lành: Ma-thi-ơ 30 lần; Mác 5 lần; Lu-ca 25 lần; Giăng 10 lần.
Danh hiệu nầy cũng dùng ở Da 7:13,14,27,để chỉ về Đấng Mê-si hầu đến. Người ta cho rằng Đức Chúa Jêsus nhận lấy Danh hiệu ấy tức là Ngài tự nhận là Đấng Mê-si.
Danh hiệu nầy cũng gợi ý rằng Đức Chúa Jêsus vui thỏa vì được từng trải làm Đức Chúa Trời hiện thân trong hình Người,và chia xẻ cuộc sống thông thường của loài người. Ngài đem Danh hiệu ấy về Thiên đàng (Cong 7:56 Gi 1:13 Gi 14:14).
Một sứ giả của Thiên đàng đã dùng danh hiệu ấy mà kêu Ê-xê-chi-ên chừng 90 lần (Exe 2:1,3,6,8 v.v…), ngụ ý rằng so sánh với Đức Chúa Trời, thì loài người rất thấp thỏi.
Phạm vi sanh hoạt của Đức Chúa Jêsus
Dầu Đức Chúa Jêsus là Công dân của vũ trụ và quen biết các đại lộ của Đức Chúa Trời trong không gian vô biên đầy tinh tú, nhưng khi sống ở trần gian nầy, Ngài chỉ ở một miền rất nhỏ hẹp, mặc dầu rất quan trọng về chiến lược. Xứ Pa-lét-tin là nơi ba đại lục gặp nhau, nằm giữa Địa-trung-hải và sa mạc Ả-rập rộng lớn, cũng là nơi gặp gỡ của những đại lộ trên thế giới.Đương thời Đức Chúa Jêsus, xứ Pa-lét-tin gồm 4 phần, đều ở dưới quyền cai trị của đế quốc La-mã:
Xứ Giu-đê, là Nam phần, thành trì của phái Do-thái thủ cựu.
Xứ Ga-li-lê, là Bắc phần, có nhiều dân Hi-lạp ở xen lẫn.
Xứ Sa-ma-ri ở giữa, cư dân là giống lai, có một phần huyết thống Do-thái.
Xứ Pê-rê ở phía Đông hạ lưu sông Giô-đanh, có nhiều đô thị La-mã thạnh vượng. Hê-rốt cai trị xứ Ga-li-lê và xứ Pê-rê. Phi-lát cai trị xứ Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.
Thành Alexandrie, đô thị thứ hai của đế quốc La-mã, ở cách 300 dặm, về phía Tây nam. Thành An-ti-ốt, đô thị thứ ba của đế quốc La-mã, ở cách 300 dặm về phía Bắc. Nền thương mại và các đạo quân của thế giới chuyển vận dọc theo bờ biển Pa-lét-tin và qua xứ Ga-li-lê.Ngoài lần chạy trốn xuống Ai-cập khi còn thơ ấu (và Ngài đã từ đó hồi hương lúc lên 2 hoặc 4 tuổi) thì không có chỗ nào chép Ngài đi xa Na-xa-rét quá 70 dặm.Giê-ru-sa-lem ở phía Nam, Si-đôn ở phía Bắc, Đê-ca-bô-lơ và xứ Pê-rê ở phía Đông, là giới hạn các cuộc du hành của Ngài theo như ta được biết.
Xứ Ga-li-lê.
Sử gia Josèphe ước lượng dân số xứ Ga-li-lê có 3 triệu người. Xứ nầy có nhiều đô thị Hi-lạp rất giàu có. Đây là một trung tâm quan trọng của nền văn hóa thế giới. Thủ đô của chánh quyền La-mã và cung điện của vua Hê-rốt ở tại Sepphoris,chỉ cách Na-xa-rét 4 dặm.
Gi 1:19-34
Lời làm chứng của Giăng
Sau khi giải luận ngắn ngủi và tổng quát về Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thực hữu từ trước vô cùng và thành nhục thể, thì sách Tin Lành Giăng bỏ qua tất cả truyện tích về Đức Chúa Jêsus giáng sanh, sống thời thơ ấu, chịu lễ báp-têm và chịu cám dỗ, mà bắt đầu bằng lời làm chứng của Giăng Báp-tít trước ủy ban do tòa Công luận cử đến rằng Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
Việc nầy xảy ra khi đã chấm dứt 40 ngày cám dỗ. Không có chỗ nào chép rằng Đức Chúa Jêsus đã từ đồng vắng, nơi Ngài bị cám dỗ, trở về sông Giô-đanh, là nơi Giăng đang làm lễ báp-têm. Ba sách Tin Lành cộng quan đi thẳng từ sự cám dỗ đến chức vụ ở xứ Ga-li-lê (Mat 4:11-12 Mac 1:13-14 Lu 4:13-14). Nhưng ba lần chép: “qua ngày sau” (câu 29, 35,43), rồi chép: “cách ba ngày sau” (Gi 2:1) để chỉ về lúc Chúa tới xứ Ga-li-lê, thì tỏ rõ rằng trước khi đi xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus đã từ đồng vắng trở lại chỗ Giăng đang giảng dạy.
“Đấng Tiên tri” (câu 21) là một Danh hiệu tiên tri của Đấng Mê-si, và dân chúng đương thời Đức Chúa Jêsus thường hiểu theo nghĩa đó (Gi 6:14).
Hãy chú ý sự khiêm nhường sâu xa của Giăng Báp-tít trong khi ông sùng bái Đức Chúa Jêsus (câu 27), — thậm chí ông tự nhận “chẳng đáng mở dây giày Ngài.” Lời ấy rất đáng chú ý, nên đã được ghi chép trong cả 4 sách Tin Lành Mat 3:11 Mac 1:7 Lu 3:16). Nếu hết thảy các ông Truyền đạo có thể tỏ lòng khiêm cung sùng kính dường ấy đối với Chúa mà họ rao giảng, thì phước cho thế giới biết bao!
Gi 1:35-51
Các môn đồ đầu tiên
Có năm môn đồ đầu tiên: Giăng, Anh-rê,Si-môn, Phi-líp, và Na-tha-na-ên. Họ đã được dự bị bởi lời giảng dạy của Giăng Báp-tít, và về sau cả năm đã được phong chức Sứ đồ. Đó là một trong những sự đóng góp của chức vụ Giăng Báp-tít cho công việc của Đấng Christ. Tuy nhiên, họ đã tạm thời quay về nghề nghiệp thường xuyên của mình. Chừng một năm sau, họ mới được kêu gọi đi theo Đấng Christ luôn. Xem lời chú giải ở dưới Mat 10:1-42.
Người ta đoán rằng Sứ đồ Giăng chính là môn đồ không được nêu tên (câu 40). Nếu ông là anh em họ của Đức Chúa Jêsus (xem lời chú giải giới thiệu sách Tin Lành nầy), chắc ông đã biết Ngài từ trước.
“Giờ thứ mười” tức là 10 giờ sáng. Giăng dùng thì giờ La-mã, cũng như thì giờ chúng ta dùng ngày nay, tính từ nửa đêm hoặc giữa trưa (Gi 4:6 Gi 19:14).
Si-môn là người kinh doanh chung với Giăng, có lẽ đã biết Đức Chúa Jêsus một cách riêng; nhưng ông không biết rằng Ngài là Đấng Mê-si cho tới lúc nầy, là lúc Giăng Báp-tít tuyên bố công khai như vậy. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên có chép trong Kinh Thánh đây, Đức Chúa Jêsus đã ban cho Si-môn một tên mới, thì dường như tỏ ra rằng Ngài đã có ý chọn ông làm Sứ đồ.
Na-tha-na-ên đã trở lại theo Chúa chắc vì thấy vẻ oai nghiêm rõ rệt của cá nhân Đức Chúa Jêsus (câu 46-49). Lời Đức Chúa Jêsus phán về thiên sứ (câu 51) tỏ ra Ngài là Con Đường lớn nối liền trái đất với Thiên đàng. Tham khảo Sa 28:12.
Dung mạo của Đức Chúa Jêsus
Trong dung mạo của Đức Chúa Jêsus có một cái gì có ảnh hưởng tức khắc trên Na-tha-na-ên (Gi 1:49). Tân Ước không nói chi tới dung mạo Đức Chúa Jêsus, tới thế kỷ thứ 4 mới có bản đầu tiên mô tả dung mạo Ngài với tánh chất thần thoại. Đây là một bức thư ngụy tác gán cho Publius Lentulus, bạn của Phi-lát, đã viết gởi tới Thượng nghị viện La-mã. Một phần như sau đây:
“Lần nầy hiện ra có một Người có quyền phép lớn. Tên Ngài là Jêsus. Môn đồ Ngài gọi Ngài là Con Đức Chúa Trời.Vóc giạc của Ngài cao quí và cân đối, mắt đầy nhân ái, nhưng cương quyết, nên kẻ ngắm xem Ngài vừa kính mến, vừa sợ hãi Ngài. Tóc Ngài màu rượu vang, mọc thẳng và không bóng, nhưng ngang tai thì xoăn và láng. Trán Ngài phẳng và nhẵn, mặt Ngài không tì vít, nhuận sắc tươi trẻ điều hòa, dáng vẻ thật thà và nhân ái.Mũi và miệng không có khuyết điểm nào. Râu rậm, cùng màu với tóc; mắt xanh lơ,sáng tuyệt vời. Khi Ngài quở trách, thì thật là khủng khiếp; khi khuyên bảo và dạy dỗ, thì giọng nói nhu mì, dễ thương. Không hề có ai thấy Ngài cười, nhưng trái lại, nhiều người thấy Ngài khóc. Thân Ngài cao, bàn tay đẹp và thẳng. Khi nói thì quả quyết, nghiêm nghị, và ít lời; về vẻ đẹp, thì Ngài trổi hơn hầu hết mọi người.”
Còn có nhiều truyền thoại khác: Nào Ngài thẳng người và đẹp đẽ, nào Ngài gù lưng và xấu xí. Dầu dung mạo Ngài thể nào đi nữa, vẻ mặt và dáng điệu Ngài cũng có một cái gì oai nghiêm, hiển hách,thiên thượng. Lời tiên tri ở sách Ê-sai, đoạn 53, ngụ ý dung mạo Ngài không đẹp đẽ; nhưng đó chắc nói đến cách sanh hoạt khiêm tốn, giản dị của Ngài mặc dầu Ngài là Vua, hơn là nói đến dung mạo Ngài.
Ngài làm thợ mộc, nên chắc phải có sức khỏe lắm. Ngài phán dạy rất hữu hiệu cho đoàn dân đông đúc giữa trời, thì ta tưởng tượng Ngài phải có tiếng nói rất hùng mạnh. Căn cứ vào các bài giảng, lời dạy và cuộc đàm thoại của Ngài, thì ta nghĩ rằng Ngài luôn luôn tự chế, không vội vàng, nhưng hoàn toàn bình tĩnh, nhất cử nhất động đều chậm chạp và oai nghiêm.
Còn như thần thoại trưng dẫn trên đây nói rằng người ta thường thấy Ngài khóc, chớ không hề thấy Ngài cười, thì Tân Ước xác nhận rằng Ngài thật có khóc, thí dụ như khóc vì thành Giê-ru-sa-lem, và khóc trước mộ phần La-xa-rơ; còn như Ngài không hề cười, thì Kinh Thánh không có chép. Tuy nhiên, có mấy chỗ ngụ ý rằng Ngài thật có óc hài hước.
Các giai đoạn trong đời Đức Chúa Jêsus
Mọi việc đã chép về Đức Chúa Jêsus đều có thể sắp vào các giai đoạn đặc biệt của đời Ngài như sau đây:
Lúc Ngài giáng sanh và thời thơ ấu của Ngài.
Ngài chịu lễ báp-têm, chịu cám dỗ và bắt đầu chức vụ công khai.
Phần đầu chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê,– 8 tháng.
Chức vụ của Ngài ở xứ Ga-li-lê, — chừng 2 năm (?).
Chức vụ của Ngài ở xứ Pê-rê và phần cuối chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, — chừng 4 tháng (?).
Tuần lễ cuối cùng của Ngài.
Chức vụ của Ngài sau khi sống lại.
Gi 2:1-11
Nước biến thành rượu
Ca-na cách thành Na-xa-rét chừng 4 dặm về phía Đông bắc. Na-tha-na-ên quê ở Ca- na (Gi 21:2). Ông không có ý kiến tôn trọng thành Na-xa-rét kế cận (Gi 1:46). Rõ ràng lắm, đây là tiệc cưới trong gia đình một bạn hữu hay bà con của Đức Chúa Jêsus, hoặc của Na-tha-na-ên.”Cách ba ngày sau” (câu 1), — thành Ca-na cách hạ lưu sông Giô-đanh ba ngày đường.
“Hỡi đờn bà kia” (câu 4) là một cách xưng hô tôn trọng, thông dụng đương thời ấy. Đức Chúa Jêsus lại xưng hô như vậy trên Thập tự giá, nhằm lúc không thể nào có mùi vị bất kính (Gi 19:26).Ngài dường như nhận xét như vầy: “Thí dụ, hết rượu, thì điều đó có liên quan gì với Ta? Đó không phải việc của Ta. Thì giờ Ta làm phép lạ chưa đến.” Có lẽ Ngài mới nói cho bà biết quyền phép mới mẻ, lạ lùng đã ban phú cho Ngài bởi Đức Thánh Linh giáng xuống khi Ngài chịu lễ báp-têm (xem lời chú giải về Ngài chịu cám dỗ, — Mat 4:1-11). Bà thấy tình hình ấy là một cơ hội cho Ngài. Dầu Ngài làm phép lạ nầy theo lời đề nghị của bà, nhưng chừng 4 tháng sau mới tới “giờ” (câu 4) Ngài sử dụng toàn thể quyền phép lạ lùng, nhằm lúc chánh thức bắt đầu chức vụ công khai tại Giê-ru-sa-lem, trong kỳ Lễ Vượt Qua (câu 13).
“Hai, ba lường nước” (câu 6).Mỗi lường ước chừng 36 lít. Ché đá bằng cỡ nửa thùng (104 lít).
Ý nghĩa của phép lạ nầy: Trong 40 ngày,Đức Chúa Jêsus đã phải nghe mọi lời Sa- tan có thể xui giục Ngài sử dụng quyền phép lạ lùng, nhưng Ngài rất cương quyết không chịu sử dụng nó để thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Rồi từ đồng vắng, Ngài đi thẳng tới tiệc cưới. Dầu các phép lạ tiếp theo sau của Ngài phần lớn cốt để làm nguôi dịu đau đớn, nhưng phép lạ đầu tiên nầy đã làm giữa tiệc cưới, trong dịp khánh hỉ, để phục vụ sự vui mừng của loài người, khiến họ được sung sướng; ấy dường như Đức Chúa Jêsus muốn bố cáo ngay từ lúc khởi đầu rằng đạo mà bây giờ Ngài đem vào thế giới không phải là đạo khổ tu, mà là đạo có sự vui vẻ thiên nhiên. Đó là phước lành của Đức Chúa Jêsus ban cho hôn nhân.
“Phép lạ thứ nhứt” (câu 11).Các truyện tích hoang đường, ngu dại về phép lạ Ngài làm lúc thơ ấu, có chép trong những sách ngụy tác, chỉ là giả tạo hoàn toàn.
“Tỏ bày sự vinh hiển của mình” (câu 11) theo tư cách Đấng Tạo Hóa. Phép lạ nầy gồm một phương thức hỏa tốc, đòi hỏi quyền sáng tạo thực sự. Về lời chú giải các phép lạ của Đức Chúa Jêsus, xin xem ở dưới Mac 5:21-43.
“Môn đồ bèn tin Ngài” (câu 11). Họ đã tin Ngài rồi, nhưng phép lạ nầy khiến họ vững tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời.
Gi 2:12
Ngụ tại Ca-bê-na-um ít lâu
Đây là một cuộc thăm viếng gia đình, gồm có mẹ và các em trai Ngài, có lẽ là tới nhà Giăng, hoặc Phi-e-rơ, hoặc môn đồ nào khác, để đặt kế hoạch cho công việc tương lai của Ngài. Chừng một năm sau,Ca-bê-na-um trở thành nơi cư ngụ chánh của Ngài. Ngài không làm phép lạ nào khác nữa ở xứ Ga-li-lê cho tới lúc Ngài trở về đó, sau khi thi hành chức vụ ở xứ Giu-đê (Gi 4:54).
Phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê
(Gi 2:13-4:3)
Phần nầy chỉ có chép trong sách Tin Lành Giăng. Nó kéo dài 8 tháng, bắt đầu nhằm kỳ Lễ Vượt Qua (Gi 2:13), tức là tháng 4 dương lịch, và chấm dứt “4 tháng” trước mùa gặt (Gi 4:3,35) tức là tháng 12 dương lịch. Nó gồm có sự dẹp sạch Đền thờ, cuộc thăm viếng của Ni-cô-đem, và chức vụ ở bờ sông Giô-đanh.
Gi 2:13-22
Đức Chúa Jêsus dẹp sạch Đền thờ
Rõ ràng lắm có hai lần dẹp sạch Đền thờ cách nhau 3 năm. Lần nầy nhằm lúc Chúa bắt đầu chức vụ công khai (chú ý chữ “kế đó” — Gi 3:22) còn lần kia nhằm lúc kết liễu chức vụ công khai, tức là trong tuần lễ cuối cùng của Chúa (Mat 21:12-16 Mac 11:15-18 Lu 19:45-46).Lần nầy, Ngài đuổi súc vật đi, còn lần kia, Ngài đuổi người buôn bán. Lần nầy,Ngài gọi Đền thờ là “nhà buôn bán,” còn lần kia, Ngài gọi nó là “ổ trộm cướp.”
Nhơn những cuộc thăm viếng Giê-ru-sa-lem trước đây, chắc Ngài đã kinh khủng trước sự vô đạo của giai cấp đang nhơn Danh Đức Chúa Trời mà cai trị. Khi chánh thức bắt đầu chức vụ công khai, Đức Chúa Jêsus đã có một hành động mà Ngài định dùng làm dấu hiệu báo cáo cho toàn dân rằng Ngài là Đấng Mê-si (vì ai nấy trông mong Đấng Mê-si làm như vậy — Ma 3:1-3); hành động ấy công khai và hoàn toàn đố thách giai cấp thống trị;bọn nầy lập tức dấy lên chống đối Ngài, nhưng Ngài dường như chẳng hề lo dẹp sự chống đối ấy. Ngài đã bắt đầu chức vụ như vậy, và cũng đã chấm dứt chức vụ như vậy.
Dung mạo Đức Chúa Jêsus phải có một cái gì rất oai nghiêm, hoặc có lẽ hơn nữa, chính là nhờ quyền phép lạ lùng của Ngài, nên một Người Lạ cô độc, chỉ có cái roi trong tay, lại có thể dẹp sạch và kiểm soát khu Đền thờ đến nỗi (lần thứ hai) “không ai” dám “đem đồ gì đi ngang qua Đền thờ” (Mac 11:16). Cả đến bọn người canh gác cũng khiếp sợ mà làm thinh.
Trong Đền thờ có cái gì làm cho Đức Chúa Jêsus bất mãn như vậy? Họ buôn bán những thứ cần thiết cho sự dâng tế lễ ở Đền thờ, để cho những kẻ từ xa tới được thuận tiện. Nhưng điểm hư tệ là họ buôn bán ngay trong khu thánh đã được biệt riêng cho các công tác khác, và họ cũng đầu cơ quá đáng đến nỗi cả cuộc thờ lạy Đức Chúa Trời đã bị thương mại hóa và bị gièm pha. Xem thêm ở dưới Mat 21:12-17.
Đền thờ do các vua dòng Hê-rốt xây cất bằng cẩm thạch và bằng vàng, thật là nguy nga quá trí tưởng tượng. Chung quanh Đền thờ có bốn hành lang, cái nọ thấp hơn cái kia, dành cho các thầy tế lễ, người Y-sơ-ra-ên, phụ nữ và người dân ngoại. Chung quanh có dãy cột bằng cẩm thạch trắng muốt, trên có mái che; mỗi cột cao chừng 13 thước tây, và làm bằng một phiến đá nguyên khối. Dãy cột ở phía Đông gọi là cổng Sa-lô-môn, là nơi có người buôn bán. Cả khu nầy có vách cao ngất bao bọc, mỗi bề hơn 300 thước tây, tức là bằng cỡ bốn chòm nhà ở một đô thị hạng trung bình.
Gi 2:23-25
Các phép lạ tại thành Giê-ru-sa-lem
Cho tới lúc nầy, Đức Chúa Jêsus mới làm có một phép lạ tại xứ Ga-li-lê (Gi 2:11 Gi 4:54). Nhưng bây giờ cùng với sự mở chiến dịch bằng một cuộc biểu thị uy quyền rầm rộ trong Đền thờ, Ngài đã làm rất nhiều phép lạ đến nỗi lắm người sẵn sàng tiếp nhận Ngài là Đấng Mê-si. Song Ngài biết quá rõ họ mong mỏi những gì ở nơi Đấng Mê-si.
Gi 3:1-21
Ni-cô-đem
Sự dẹp sạch Đền thờ và các phép lạ cặp theo đã có ấn tượng sâu xa trên dân Giê-ru-sa-lem. Ni-cô-đem, một người Pha-ri-si và nhân viên tòa Công luận, có quyền thế, đã tìm cách cẩn thận trò chuyện riêng với Đức Chúa Jêsus. Ông chú ý đến Chúa, nhưng muốn biết Ngài có phải thật là Đấng mà Ngài tự xưng chăng? Chúng ta không biết ông đã tin Chúa tới mực nào. Hai năm sau, ông đã binh vực Đức Chúa Jêsus trước hội nghị (Gi 7:50-52). Về sau, ông và Giô-sép, một người khác có chơn trong tòa Công luận, đã an táng Đức Chúa Jêsus (Gi 19:39). Ông là một môn đồ kín giấu trong những ngày đức tin ông đang được tạo dưỡng, song về sau ông vui lòng công khai chia sẻ sự sỉ nhục của Thập tự giá với Đức Chúa Jêsus. Trong giờ phút Đức Chúa Jêsus bị hạ thấp, trong khi các Sứ đồ chạy trốn, thì ông đã từ bóng tối xuất hiện, liều chính mạng mình mà hầu việc Chúa lần chót một cách kính mến diệu hiền; (1)nó là một trong những hành động cao thượng hơn hết có chép ở Kinh Thánh. Chắc ông đã đền tội trước kia có ý giấu giếm lòng tin Chúa, nhứt là nếu ta xét rằng ông có chơn trong tòa Công luận, và ở ngay trung tâm của “trại quân thù.” Chúng tôi nghĩ rằng Ni-cô-đem sẽ có một địa vị cao trọng ở Thiên đàng, và không thích nghe các ông Truyền đạo nêu ông lên làm gương xấu về sự hèn nhát. Trái lại, ông làm cho hết thảy chúng ta phải hổ thẹn.
Sự “sanh lại” mà Đức Chúa Jêsus giải luận đây không phải chỉ là một ẩn dụ (métaphore), nhưng là một thực sự do Thánh Linh của Đức Chúa Trời dầm thấm lòng người ta (xem ở Ro 8:1-11). Chắc Ni-cô-đem cũng chung quan niệm thông thường rằng Nước của Đấng Mê-si phải là một nước chánh trị, trong đó dân Ngài sẽ được giải phóng khỏi sự đô hộ của người La-mã. Đức Chúa Jêsus cố tỏ cho ông biết tánh chất thiêng liêng của Nước Ngài, thật khác hẳn ý tưởng của Ni-cô-đem, đến nỗi ông nầy không hiểu Ngài giải luận điều chi đó. Ông không thể hiểu tại sao ông, một người hiền đức,một người Pha-ri-si chánh hiệu, một trong những người cai trị dân tộc của Đấng Mê-si, lại không được nhiệt liệt hoan nghinh vào Nước Đấng Mê-si nguyên trong tình trạng ấy. Ông không thể nào chịu nhận rằng trái lại, ông phải hoàn toàn xây dựng lại ý tưởng của mình và chính thân mình nữa.
“Bị treo lên” (câu 14). Đây là lời báo cáo, ngay lúc Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ, rằng Thập tự giá sẽ là ngôi của Đấng Mê-si. Đây Chúa nhắc đến con rắn bằng đồng mà những kẻ bị rắn lửa cắn nhìn vào và được sống (Dan 21:9), và Ngài có ý phán rằng sự “sanh lại”(mà Ngài mới giải luận đó) để được hưởng sự sống đời đời sẽ do sự chết của Ngài mà có. Sự “sanh lại” gợi cho Giăng câu yêu quí hơn hết trong cả Kinh Thánh (Gi 3:16).
Gi 3:22-36
Chức vụ của Đức Chúa Jêsus ở hạ lưu sông Giô-đanh
Người ta cho rằng đây chính là nơi Ngài đã chịu lễ báp-têm khoảng 6 tháng trước. Trong lúc ấy, Giăng Báp-tít đã tiến về thượng lưu sông Giô-đanh, cách chừng 40 cây số, tới một chỗ gọi là Ê-nôn (xem bản đồ số 45, ở dưới Mat 3:13-17). Chúa và Giăng Báp-tít cùng giảng một đề mục: Nước Thiên đàng dự ngôn từ lâu nay đã đến rồi! Chẳng bao lâu, Đức Chúa Jêsus có đông người theo hơn Giăng, chắc một phần vì cớ các phép lạ của Ngài (Gi 10:41), và một phần vì Ngài là Đấng Mê-si mà Giăng đã rao giảng, và cũng vì cá nhân của Ngài oai phong hơn.
Sau 8 tháng, Giăng Báp-tít bị hạ ngục (Mat 4:12); các nhà cầm quyền ở Giê-ru-sa-lem chú ý tới Chúa (Gi 4:1), và nếu Đức Chúa Jêsus cứ ở vùng đó, thì có cơ nguy hiểm cho Ngài. Để khỏi bị giết sớm, tức là trước khi làm xong công việc, Ngài bèn lui về xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài bị họ can thiệp ít hơn.
Thời gian nầy gồm 8 tháng, xin chứng tỏ như vầy: Nó bắt đầu khoảng kỳ Lễ Vượt Qua, tức là tháng 4 dương lịch (Gi 2:13 Gi 3:22)và kết liễu “4 tháng trước mùa gặt,” tức là tháng 12 dương lịch (Gi 4:35).
Gi 4:1-42
Người đờn bà Sa-ma-ri
Có lẽ vì thận trọng, nên Đức Chúa Jêsus trở về xứ Ga-li-lê qua xứ Sa-ma-ri, chớ không đi đường họ thường đi, tức là ngược thung lũng sông Giô-đanh. Xứ Sa-ma-ri ở ngoài quyền cai trị của Hê-rốt, là vua vừa mới bỏ tù Giăng Báp-tít. Đức Chúa Jêsus không tới đó để giảng. Ngài chỉ đi qua đó, trên đường tới xứ Ga-li-lê. Cuộc đàm thoại của Ngài với người đờn bà Sa-ma-ri chỉ là tình cờ. Đây là một trong những truyện tích tốt đẹp nhứt, lý thú nhứt và hữu ích nhứt của đời Đức Chúa Jêsus.
Người Sa-ma-ri là dân di cư, thuộc về một chủng tộc ngoại bang do quân A-si-ri đem tới đó ở từ 700 năm trước (IIVua 17:6,24,26,29 Exo 4:1,9,10). Họ đã công nhận Ngũ kinh của Môi-se, và đã theo đạo Do-thái một phần nào. Họ trông mong Đấng Mê-si sẽ đặt thủ đô của chánh phủ Ngài tại Sa-ma-ri, chớ không phải tại Giê-ru-sa-lem.
Những kẻ cai trị chính nước Đức Chúa Jêsus đã nhìn Ngài bằng con mắt nghi ngờ; nhưng đây, người Sa-ma-ri bị họ khinh dể đã vui vẻ tiếp đón Ngài, kể cả người đờn bà đang sống trong cảnh lẻ mọn bất hợp pháp. Trong các sách Tin Lành có một mâu thuẫn tái diễn luôn luôn, ấy là những kẻ bảo tồn tôn giáo trong nước Đức Chúa Jêsus thì chối bỏ Ngài, còn những kẻ bị xã hội loại bỏ, những tội nhân và thường dân thì tiếp nhận Ngài.
Giếng của Gia-cốp vẫn còn đó, sâu chừng 33 thước tây, và đường kính chừng 3 thước tây. Nó thuộc trong một số ít chỗ có liên quan đến truyện tích Đức Chúa Jêsus mà ta có thể chỉ đúng vị trí.
“Giờ thứ sáu” (câu 6) tức là thì giờ La-mã, cũng như thì giờ của chúng ta, là 6 giờ chiều.
Cuộc thăm viếng của Đức Chúa Jêsus đặt nền tảng cho sự vui lòng tiếp nhận Tin Lành bởi người Sa-ma-ri mấy năm sau (Cong 8:4-8).
Gi 4:43-54
Con trai quan thị vệ
Trên đường từ xứ Sa-ma-ri đến thành Ca-na, Đức Chúa Jêsus chắc phải đi qua Na- xa-rét (xem bản đồ số 46 ở dưới Mac 3:7-12). Ca-na cách Na-xa-rét 4 dặm về phía Đông bắc. Ca-na là quê hương của Na-tha-na-ên và là chỗ mà một năm trước, Đức Chúa Jêsus đã làm phép lạ đầu tiên (Gi 2:1-11). Quan thị vệ nầy làm việc dưới quyền Hê-rốt, tại thành Ca-bê-na-um.Ca-bê-na-um cách Ca-na 15 dặm về phía Đông bắc. Do lời miệng Chúa phán, phép lạ nầy được thực hiện trên một người ở cách xa 15 dặm. “Phép lạ thứ hai”(câu 54) đây có nghĩa là phép lạ thứ hai mà Ngài làm tại xứ Ga-li-lê. Giữa hai phép lạ nầy, Ngài đã làm nhiều phép lạ khác tại thành Giê-ru-sa-lem (Gi 2:23).
Sau phép lạ nầy, dường như Đức Chúa Jêsus trở về Na-xa-rét và ở đó một thời gian (Lu 4:16-30). Dân chúng Na-xa-rét có nghe về Chúa chữa bịnh cho con quan thị vệ tại thành Ca-bê-na-um, và họ muốn Ngài tái diễn phép lạ ấy ở chính quê hương Ngài (Lu 4:23).
Gi 5:1-47
Chúa làm một phép lạ tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát
Phép lạ nầy xảy ra trong một ngày lễ (câu 1). Những ngày lễ mà dân Do-thái cử hành đương thời Đức Chúa Jêsus và chắc Ngài thường dự, là:
Lễ Vượt Qua.–Tháng 4 dương lịch. Kỷ niệm sự ra khỏi Ai-cập, 1400 năm trước.
Lễ Ngũ Tuần.–Tháng 6 dương lịch, 50 ngày sau. Kỷ niệm sự ban bố Luật pháp.
Lễ lều tạm.–Tháng 10 dương lịch. Ăn mừng mùa gặt.
Lễ Khánh thành (Đền thờ).– Tháng 12 dương lịch. Cũng gọi là lễ “Đuốc.” Do ông Giu-đa Macchabée thiết lập.
Lễ Phu-rim.–Trước Lễ Vượt Qua ít ngày. Các sách Tin Lành không hề chép về lễ nầy.
Đức Chúa Jêsus đã trở về xứ Ga-li-lê nhằm tháng 12 dương lịch, vào khoảng lễ Khánh thành (xem ở Gi 3:22-36). Ngày lễ theo sau đó là lễ Phu-rim, thường được cử hành khắp xứ và không ai buộc phải tới thành Giê-ru-sa-lem. Sau đó là Lễ Vượt Qua, và ai nấy thường nhìn nhận đó là cơ hội Chúa viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem lần nầy.
Một năm trước, Đức Chúa Jêsus đã dẹp sạch Đền thờ, để làm dấu hiệu trọng đại giới thiệu Ngài là Đấng Mê-si. Lần nầy, Ngài làm một phép lạ nhằm ngày Sa-bát, dường như cốt để cố ý đả phá ý tưởng của họ đối với ngày Sa-bát. Như vậy, bọn người cầm quyền sẽ chú ý đến Ngài, và lời Ngài tự nhận là Đức Chúa Trời sẽ được đồn rộng hơn hết khắp cả thủ đô Giê-ru-sa-lem.Nhơn dịp nầy, dân chúng nghe Ngài giải thích tường tận rằng Ngài là Đức Chúa Trời,và kết quả tòa Công luận quyết định giết Ngài (câu 18). Mãi 2 năm sau, họ mới thi hành được quyết định ấy.
Theo truyền thoại, ao Bê-tết-đa ở ngay phía Bắc Đền thờ. Song một vài học giả cho nó chính là nơi ngày nay gọi là Ao Trinh nữ, ở ngay phía Nam Đền thờ, bây giờ vẫn còn là một suối nước giao động không chừng. Trong bản thảo Sinaitique, không có câu 4 nói về thiên sứ.
Đức Chúa Jêsus nhắc đến phép lạ nầy, đến ý họ quyết định giết Ngài một năm rưỡi sau, và kêu gọi họ chú ý đến lòng hay dời đổi của họ, vì họ làm phép cắt bì nhằm ngày Sa-bát, nhưng đồng thời lại phản đối việc Ngài chữa bịnh trong ngày Sa-bát. Đó là một trong những điểm tranh chấp chánh của kẻ thù nghịch Ngài (Gi 9:14 Lu 13:14). Họ toan mưu giết Ngài vì Ngài đã chữa lành người teo tay trong ngày Sa-bát (Mac 3:6).
Trong Kinh Thánh chỉ chép có một lần Đức Chúa Jêsus “giận” (Mac 3:5), vì họ phản đối Ngài chữa bịnh trong ngày Sa-bát. Còn lần khác, khi môn đồ toan ngăn cản con trẻ đến cùng Ngài, thì Ngài “nổi bất bình” (Mac 10:14 — theo bản tiếng Anh).
Các lần chữa bịnh trong ngày Sa-bát
Chúa của ngày Sa-bát đã chữa bịnh bảy lần trong ngày Sa-bát theo như có chép dưới đây:
Người bị quỉ ám tại Ca-bê-na-um (Mac 1:21-27).
Bà gia của Phi-e-rơ, tại Ca-bê-na-um (Mac 1:29-31).
Người đau, tại thành Giê-ru-sa-lem (Gi 5:1-9).
Người teo tay (Mac 3:1-6).
Người đờn bà còng lưng (Lu 13:10-17).
Người bị thủy thũng (Lu 14:1-6).
Người mù từ thuở sanh ra (Gi 9:1-14).
Gi 6:1-71
Chúa cho 5000 người ăn no nê
Đây là phép lạ duy nhứt của Đức Chúa Jêsus có chép trong cả bốn sách Tin Lành (Mat 14:13-33 Mac 6:32-52 Lu 9:10-17).
Phép lạ nầy làm ở bờ Đông bắc của biển Ga-li-lê, tại một chỗ cách cửa sông Giô- đanh 2 dặm về phía Đông nam.
Đây nhằm kỳ Lễ Vượt Qua (Gi 6:4), một năm trước khi Đức Chúa Jêsus chịu chết, trong lúc dân chúng đông đảo đang đi đường lên thành Giê-ru-sa-lem. Chính Đức Chúa Jêsus không lên thành Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt Qua lần nầy, vì trong kỳ viếng thăm trước, chúng đã toan mưu giết Ngài (Gi 5:1,18). Có lẽ đây là Lễ Vượt Qua thứ nhứt mà Ngài không lên thành Giê-ru-sa-lem để dự kể từ khi Ngài 12 tuổi.
Ngài giữ Lễ Vượt Qua nầy bằng cách làm phép lạ lớn lao nhứt để giúp đoàn dân đông đảo đang đi dự Lễ Vượt Qua.
Hãy chú ý: Đức Chúa Jêsus ưa thích trật tự. Ngài truyền lịnh cho dân chúng ngồi xuống từng nhóm 50 và 100 người (Mac 6:39-40), có lẽ họ được sắp đặt chung quanh Ngài thành hình tròn hoặc hình bán nguyệt.
Cũng hãy chú ý nữa: Dầu Ngài có thể làm phép lạ, nhưng Ngài không phí phạm. Ngài truyền thâu lượm những miếng còn thừa (câu 12-13).
Phép lạ nầy đã có ảnh hưởng lớn lao.Dân chúng muốn tôn Ngài làm Vua lập tức (câu 14-15). Chắc họ định ý xin Ngài dẫn đầu họ lên thành Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt Qua.
Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt nước (câu 16-21). Việc nầy xảy ra “lối canh tư” (Mac 6:48), tức là sau 3 giờ sáng.
Đức Chúa Jêsus đã ở một mình trên núi gần suốt đêm để cầu nguyện (Mac 6:46