CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

MỤC LỤC

Hội Thánh được thành lập và lan tràn

Tin Lành được rao truyền đến các dân ngoại

Đời sống và sự nghiệp của Phao-lô

Sách nầy mô tả Tin Lành từ thành Giê-ru-sa-lem lan tràn tới thành La-mã. Tin Lành tràn ra tứ phía, và đương thời Phao-lô, đã tới mọi phần của thế giới người ta được biết (Co 1:23).

Tuy nhiên, Tân Ước chỉ nói đến sự lan tràn của Tin Lành khắp xứ Pa-lét-tin, phía Bắc tới An-ti-ốt, phí Tây tới La-mã,qua Tiểu-Á-tế-á và Hi-lạp, tức là gồm các miền hợp thành “xương sống của đế quốc La-mã.”

Sách nầy nhan đề là: “Công vụ các sứ đồ,” nhưng phần lớn là công vụ của Phi-e-rơ và Phao-lô, nhứt là Phao-lô. Phao-lô là Sứ đồ của các dân ngoại, tức là các dân tộc trừ ra người Do-thái. Đối với toàn thể các sách Kinh Thánh, thì đề mục chánh yếu của sách Công vụ các sứ đồ là sự rao truyền Tin Lành cho các dân ngoại.

Cựu Ước chép truyện tích Đức Chúa Trời thành lập và trưởng dưỡng dân tộc Hê-bơ- rơ, ngõ hầu nhờ họ mà ban phước cho MỌI dân tộc. Trong sách Công vụ các sứ đồ nầy có chép về khởi điểm của công việc lớn lao và lạ lùng ở giữa các dân tộc. Đấng Mê-si của người Do-thái mà các Đấng tiên tri dự ngôn từ lâu, rốt lại, đã ngụ đến. Và trong sách nầy, Nhà của Đức Chúa Trời không còn là một tổ chức quốc gia, nhưng trở nên một cơ quan quốc tế.

 

Tác giả

Tác giả không xưng danh. Trong câu đầu có dùng nhân xưng đại danh từ “Ta” tỏ ra rằng những người đầu tiên nhận sách chắc biết tác giả là ai. Ngay từ lúc đầu, sách nầy là sách Tin Lành thứ ba đã được nhìn nhận là tác phẩm của Lu-ca.

 

Niên hiệu

Sách chấm dứt khi Phao-lô ở La-mã được “trọn hai năm” (Cong 28:30). Người ta thường nhìn nhận điều nầy tỏ ra rằng sách Công vụ các sứ đồ đã được chép vào khoảng đó, chừng năm 63 S.C., vì sau khi để rất nhiều chỗ tường thuật việc Phao-lô bị cầm tù (đoạn 21-28), nếu sách nầy được viết ra lâu lắm về sau, thì ta dường như không thể tin rằng tác giả lại bỏ qua không ghi chép kết quả việc xét xử Phao-lô.

 

Lu-ca

Ta ít biết về Lu-ca. Ở  Co 4:11,14, ông dường như được liệt vào hàng dân ngoại. Nếu vậy, thì theo chỗ chúng ta biết,ông là người dân ngoại duy nhứt dự phần trứ tác Kinh Thánh.

Eusèbenói rằng Lu-ca quê hương ở An-ti-ốt. Ramsey, một người có danh tiếng nhứt trong những học giả kim thời chuyên về văn phẩm của Phao-lô, cho rằng ông là dân thành Phi-líp .

Ông được nhìn nhận là một người có văn hóa, giỏi khoa học, thông thạo tiếng Hê-bơ-rơ, và tiếng Hi-lạp cổ điển. Còn về nghề nghiệp, thì ông là thầy thuốc.

Ông nhập đoàn với Phao-lô lần đầu tiên tại Trô-ách, năm 50 S.C..

 

Niên biểu của sách Công vụ các sứ đồ

Người ta biết rằng Hê-rốt chết năm 44 S.C. (Cong 12:23). Có chép Phao-lô tới Giê-ru-sa-lem vào khoảng Hê-rốt giết Gia-cơ (Cong 11:30-12:2) còn Phao-lô đi khỏi Giê-ru-sa-lem ngay sau khi Hê-rốt chết (Cong 12:23,25).Như vậy, dường như đây là cuộc viếng thăm có nói đến ở  Ga 2:1, tức là “14 năm” sau khi Phao-lô trở lại tin Chúa. Nếu như vậy và nếu xét rằng tục lệ Hê-bơ-rơ kể những phần một năm lúc đầu và lúc cuối một thời kỳ là những năm trọn,thì “14 năm” thật ra có thể chỉ là 13 năm, hoặc ít hơn nữa. Thế thì Phao-lô đã trở lại tin Chúa khoảng năm 31 hoặc 32 S.C..

Lấy năm 30 S.C. làm khởi điểm và lấy năm 60 S.C. làm niên hiệu ta biết Phê-tu được bổ chức tổng đốc tại Sê-sa-rê (Cong 24:27), thì những niên hiệu sau đây có thể coi như gần đúng: —

 

hành lập Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, đoạn 2

30 S.C.

Ê-tiên bị ném đá, Hội Thánh bị tan lạc, đoạn 7, 8

31 hoặc 32 S.C.

Sau-lơ trở lại tin Chúa, đoạn 9

31 hoặc 32 S.C.

Phao-lô viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên sau khi trở lại tin Chúa

34 hoặc 35 S.C.

Cọt-nây, người dân ngoại trở lại tin Chúa

Giữa 35 và 40 S.C.

Người dân ngoại được tiếp nhận tại An-ti-ốt, đoạn 11

Khoảng 42 S.C.

Phao-lô viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem lần thứ hai (11:27-30)

44 S.C.

Hành trình truyền giáo thứ nhứt của Phao-lô, tại xứ Ga-la-ti, đoạn 13, 14

45-48 S.C.

Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem, đoạn 15

Khoảng 50 S.C.

Hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô, tại Hi-lạp, đoạn 16, 17, 18

50-53 S.C.

Hành trình truyền giáo thứ ba của Phao-lô, tại thành Ê-phê-sô, đoạn 19, 20

54-57 S.C.

Phao-lô tới thành Ê-phê-sô, đoạn 19

54 S.C.

Phao-lô dời khỏi thành Ê-phê-sô nhằm tháng sáu dương lịch (I Cô-rinh-tô 16:18)

57 S.C.

Phao-lô ở xứ Ma-xê-đoan, mùa hạ và mùa thu (I Cô-rinh-tô 16:5-8)

57 S.C.

Phao-lô ở thành Cô-rinh-tô 3 tháng, vào mùa đông, (Công vụ các sứ đồ 20:2-3)

57-58 S.C.

Phao-lô dời khỏi thành Phi-líp, nhằm tháng 4 dương lịch, (Công vụ các sứ đồ 20:6)

58 S.C.

Phao-lô tới thành Giê-ru-sa-lem nhằm tháng 6 dương lịch (Công vụ các sứ đồ 20:16)

58 S.C.

Phao-lô tại thành Sê-sa-rê, đoạn 24, 25, 26

Mùa hạ 58 S.C. tới mùa thu 60 S.C.

Hành trình của Phao-lô tới kinh thành La-mã

Mùa đông 60-61 S.C.

Phao-lô ở kinh thành La-mã 2 năm

61-63 S.C.

 

Cong 1:1-5

40 ngày

Trong 40 ngày giữa sự sống lại và sự thăng thiên của Đức Chúa Jêsus, Ngài đã hiện ra 10 hoặc 11 lần (có chép trong Kinh Thánh) với các môn đồ, để trừ bỏ đời đời khỏi trí óc họ mối hoài nghi sự tồn tại liên tục của Ngài với tư cách một Đấng Sống. Trong 40 ngày ấy, họ đã được một sự từng trải kỳ diệu biết bao! nào thấy, nào trò chuyện với, nào ăn với, nào chính tay mình rờ tới Đức Chúa Jêsus trong thân thể thật của Ngài đã bị đóng đinh vào Thập tự giá nhưng nay được vinh hiển, những khi Ngài hiện ra và biến đi qua cửa đóng chặt, không từ chỗ nào tới và cũng không trở vào chỗ nào. Mọi sự đó lên tới tuyệt điểm khi Ngài giơ tay ban phước và lần lần cất lên, rồi biến mất trong mây.

“Sách thứ nhứt” (Cong 1:1), tức là sách Tin Lành Lu-ca (Lu 1:3).

“Thê-ô-phi-lơ” (Cong 1:1). Xem ở đầu sách Lu-ca. “Đã làm và dạy từ ban đầu” (Cong 1:1), gồm ý rằng những điều chép trong sách Công vụ các sứ đồ vẫn còn là công việc của Đức Chúa Jêsus.

Cong 1:6-11

Đấng Christ ngự lên trời

Cuộc gặp gỡ các môn đồ lần chót đã diễn ra tại Giê-ru-sa-lem (Cong 1:4) từ đó Ngài dẫn họ tới làng Bê-tha-ni (Lu 24:50).

“Lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng?” (câu 6). Trí óc họ vẫn còn chăm chú vào nền độc lập chánh trị của nước mình. Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, họ đã hiểu rõ hơn.

“Cho đến cùng trái đất” (câu 8). Đó là lời sau chót của Đức Chúa Jêsus trước khi Ngài biến mất sau đám mây.Họ không quên lời đó. Theo truyền thoại, thì hầu hết trong vòng họ đã tuận đạo ở những xứ xa xôi.

“Cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy.” Từ đỉnh đồi làng Bê-tha-ni. Ngài đã cất lên và biến sau từng mây. Và Ngài trở lại giữa đám mây, cho cả thế gian xem thấy (Mat 24:27,30  Kh 1:7).

Cong 1:12-14

Phòng cao

Đây có lẽ là chính phòng mà Đức Chúa Jêsus đã thiết lập Tiệc Thánh (Lu 22:12), và có lẽ cũng là phòng mà Đức Chúa Jêsus đã hai lần hiện ra với các môn đồ (Gi 20:19,26) lại cũng có thể là phòng mà Đức Thánh Linh đã giáng trên họ (Cong 2:1). Phòng nầy rộng đủ chứa 120 người (Cong 1:15).

“Ma-ri, là mẹ Đức Chúa Jêsus”(Cong 1:14). Đây là chỗ Tân Ước nói đến bà lần chót. Dầu bà được quí chuộng và tôn trọng vì là mẹ của Cứu Chúa, nhưng các Sứ đồ cũng không hề tỏ dấu chút nào rằng họ cảm thấy mình cần được bà làm trung bảo giữa mình và Đấng Christ, y như rất nhiều người về sau đã cảm thấy. Trong thời đại thông sáng nầy, nếu người ta cứ tiếp tục thần hóa bà Ma-ri càng ngày càng hơn, há chẳng kỳ lạ sao? Không phải là Kinh Thánh Tân Ước đã tôn bà Ma-ri lên địa vị Đức Chúa Trời.

Cong 1:15-26

Lựa chọn người kế chức Giu-đa

Sau khi phản nộp Đức Chúa Jêsus, Giu-đa đã tự treo mình (Mat 27:5), rồi thân thể nó rớt xuống và bể ra (Cong 1:18). Bấy giờ số tiền nó trả lại các thầy tế lễ bèn được dùng để mua khu ruộng thợ gốm (Mat 27:7). Cho tới ngày nay, người ta còn gọi khu ấy là: “Hác-en-đa-ma,”nghĩa là: “Ruộng Huyết.”

Ma-thia được chọn thay thế Giu-đa để cho đủ số 12 Sứ đồ. Ta không biết thêm chút gì về Ma-thia. Chắc con số 12 có ý nghĩa tượng trưng mà chúng ta không biết hết được. Nền thành Giê-ru-sa-lem mới sẽ mang tên của 12 Sứ đồ.

Cong 2:1-13

Lễ Ngũ Tuần

Năm 30 S.C.. Sanh nhật của Hội Thánh.Ngày thứ 50 sau khi Đức Chúa Jêsus sống lại. Ngày thứ 10 sau khi Ngài ngự lên trời. Kỷ nguyên Tin Lành bắt đầu. Lễ Ngũ Tuần đặc biệt nầy nhằm Chúa nhật.

Lễ Ngũ Tuần cũng gọi là Lễ Trái Đầu Mùa và Lễ Mùa Gặt. Ngày lễ ấy được chọn làm ngày hái trái đầu tiên của mùa gặt Tin Lành khắp thế giới, thật là thích hợp biết bao!

Ở sách  Gi 16:7-14, Đức Chúa Jêsus đã phán về kỷ nguyên Đức Thánh Linh ngự đến. Bây giờ, sự ngự đến nầy được thực hiện bởi sự phát tỏ mạnh mẽ và lạ lùng của Đức Thánh Linh, có tiếng như gió ào ào và lưỡi bằng lửa rời rạc rơi xuống đậu trên các môn đồ. Đó là công khai tuyên bố sự sống lại của Đức Chúa Jêsus cho thế giới biết, cho người Do-thái và người dân ngoại theo đạo Do-thái đang từ mọi phương thế giới (được biết thời đó) tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Ngũ Tuần. Có ghi tên 15 xứ (Cong 2:9-11), và các Sứ đồ người Ga-li-lê dùng tiếng của các xứ ấy mà giảng cho họ.

Cong 2:14-26

Bài giảng của Phi-e-rơ

Các Sứ đồ có lưỡi bằng lửa đậu trên mình, đã giảng bằng tiếng của mọi xứ có người đại diện tại đó; Phi-e-rơ giải thích (câu 15-21) rằng ấy là để ứng nghiệm lời tiên tri ở  Gio 2:28-32.

 

053

Bản đồ số 53

Các xứ có đại diện trong ngày Lễ Ngũ Tuần

Việc xảy ra ngày đó có lẽ không phải là đã làm ứng nghiệm hoàn toàn, nhưng chỉ là khởi điểm một kỷ nguyên trọng đại,đáng chú ý; tuy giới thiệu kỷ nguyên đó như vậy, nhưng một vài lời tiên tri còn có thể liên quan đến kỳ sau rốt.

 

Ứng nghiệm lời tiên tri

Hãy chú ý lời tuyên bố lập lại nhiều lần rằng những việc xảy ra đã được dự ngôn: Giu-đa phản bội (Cong 1:16,20) Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá (Cong 3:18) Ngài sống lại (Cong 2:25-28) Ngài ngự lên trời (Cong 2:33-35) và Đức Thánh Linh giáng lâm (Cong 2:17). “Hết thảy các tiên tri đã phán” (Cong 3:18,24).

 

Sự sống lại của Đức Chúa Jêsus

Cũng hãy chú ý suốt cả sách nầy luôn luôn nhấn mạnh vào sự sống lại của Ngài. Đó là điểm then chốt của bài Phi-e-rơ giảng trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong 2:24,31,32), và trong bài giảng thứ hai của ông (Cong 3:15),cùng khi ông tự binh vực trước tòa Công luận (Cong 4:2,10). Đó là đề mục chánh yếu trong sự giảng dạy của các Sứ đồ (Cong 4:33). Khi Phi-e-rơ bị tố cáo lần thứ hai,ông đã binh vực sự sống lại của Đức Chúa Jêsus (Cong 5:30;). Sau-lơ đã trở lại tin Chúa vì được thấy Đấng Christ sống lại (Cong 9:3-6). Phi-e-rơ giảng đề mục ấy cho nhà Cọt-nây (Cong 10:40). Phao-lô giảng đề mục ấy tại An-ti-ốt (Cong 13:30-37),Tê-sa-lô-ni-ca (Cong 17:3), A-thên (Cong 17:18,31), Giê-ru-sa-lem (Cong 22:6-11). Cho Phê-lít (Cong 24:15,21),cho Phê-tu và Ạc-ríp-ba (Cong 26:8,23).

Cong 2:37-47

Hội Thánh sơ sanh

Ngày thứ nhứt có 3000 người trở lại tin Chúa (Cong 2:41). Đó lời chứng hiển nhiên về sự sống lại của Đức Chúa Jêsus. Họ đã chịu lễ báp-têm (Cong 2:38).

“Lấy mọi vật làm của chung” (Cong 2:44-45).Cuộc sanh hoạt công đồng của Hội Thánh đây đã kèm theo sự đem đạo Đấng Christ vào trong thế giới một cách lạ lùng. Chúng tôi nghĩ rằng cuộc sanh hoạt nầy cốt để làm tỉ dụ phi thường về điều Thánh Linh Đấng Christ có thể làm cho loài người,chớ không cốt để làm khuôn mẫu bình thường vĩnh viễn, cũng như các phép lạ hằng ngày của các Sứ đồ không tái diễn vĩnh viễn. Cuộc sanh hoạt nầy chỉ là tình nguyện, tạm thời và hạn chế. Chỉ những ai tự thấy rất muốn, thì mới dâng cho.Không chép sự thực hành như vậy tại các chi hội khác trong Tân Ước. Phi-líp, một trong bảy thầy phó tế (chấp sự) “giúp việc bàn tiệc” lúc nầy, về sau lại ở nhà riêng tại Sê-sa-rê (Cong 21:8).

Tại Giê-ru-sa-lem có rất nhiều người nghèo. Lâu năm về sau, tại nhiều đô thị khác, Phao-lô đã thâu những số tiền lớn quyên giúp Mẫu Hội (Cong 11:29  Cong 24:17).

 

Các phép lạ (Cong 2:43)

Các phép lạ là một phần rất hiển nhiên của sách Công vụ các sứ đồ. Sách bắt đầu bằng những sự hiện ra rõ rệt của Đức Chúa Jêsus với các môn đồ sau khi Ngài đã chết (Cong 1:3). Rồi trước mắt họ, Ngài ngự lên trời, khuất trong đám mây (Cong 1:9).

Rồi nhằm Lễ Ngũ Tuần, có sự phát hiện lạ lùng, rõ ràng của Đức Thánh Linh “như lưỡi bằng lửa” (Cong 2:3). Rồi các Sứ đồ làm “nhiều sự kỳ phép lạ” (Cong 2:43).

Sự chữa lành người què ở cổng Đền thờ (Cong 3:7-11)đã có ảnh hưởng sâu xa đến cả thành (Cong 4:16,17).

Đức Chúa Trời làm động đất để đáp lại lời cầu nguyện của họ (Cong 4:31). A-na-nia và Sa-phi-ra chết vì bị Chúa đánh một cách lạ lùng (Cong 5:5-10).

Các Sứ đồ tiếp tục làm những sự kỳ phép lạ. Rất đông người từ các thành lân cận kéo đến và được chữa lành bởi bóng của Phi-e-rơ (Cong 5:15,16). Thật giống như đương thời của Đức Chúa Jêsus ở xứ Ga-li-lê.

Cửa khám tù đã được thiên sứ mở ra (Cong 5:19).Ê-tiên “làm dấu kỳ phép lạ rất lớn” (Cong 6:8). Phi-líp làm “dấu kỳ phép lạ” lớn lao ở xứ Sa-ma-ri (Cong 8:6,7,13), nhơn đó, rất đông người tin Chúa.

Sau-lơ trở lại tin Chúa vì nghe một Tiếng phán trực tiếp từ Thiên đàng (Cong 9:3-9). Theo lời của A-na-nia, “vảy” rớt khỏi mắt Sau-lơ (Cong 9:17,18).

Tại thành Ly-đa. Phi-e-rơ chữa lành Ê-nê, và cả miền ấy trở lại tin theo Đấng Christ (Cong 9:32-35). Tại Giốp-bê,Phi-e-rơ kêu Đô-ca sống lại từ trong kẻ chết, nên có nhiều người tin Chúa (Cong 9:40-42).Cọt-nây trở lại tin Chúa vì cớ thiên sứ hiện ra, sau đó có “nói tiếng ngoại quốc” (Cong 10:3,46). Có tiếng Đức Chúa Trời phán bảo Phi-e-rơ hãy đi đến với Cọt-nây (Cong 10:9-22), do đó thuyết phục người Do-thái rằng Phi-e-rơ làm phải lẽ (Cong 11:15,18).Một cổng khám tù “tự mở ra” (Cong 12:10). Tên thuật sĩ bị đui mù đã khiến quan trấn thủ đảo Chíp-rơ tin Chúa (Cong 13:11,12). Phao-lô “làm những phép lạ dấu kỳ” tại thành Y-cô-ni, và có rất đông người tin Chúa (Cong 14:3,4). Tại thành Lít-trơ, sự chữa lành người què khiến dân chúng tưởng Phao-lô là một vị thần (Cong 14:8-18).

Tại Giê-ru-sa-lem, sự tường thuật các dấu kỳ phép lạ làm bởi Phao-lô và Ba-na-ba đã thuyết phục tín đồ Do-thái rằng công việc của Phao-lô giữa vòng dân ngoại là do Đức Chúa Trời mà ra (Cong 15:12-19).

Tại thành Phi-líp, Phao-lô chữa lành một thiếu nữ làm nghề bói, và một cơn động đất khiến viên quản đốc lao xá trở lại tin Chúa (Cong 16:16-34). Tại Ê-phê-sô, có 12 người nói tiếng ngoại quốc (Eph 19:6),và những phép lạ đặc biệt làm bởi Phao-lô (Cong 19:11,12) đã khiến cho Lời Chúa được ưu thế hùng mạnh (Cong 19:20). Tại Trô-ách, Phao-lô kêu một thanh niên sống lại (Cong 20:8-12). Tại đảo Man-tơ, bàn tay Phao-lô được lành khi bị rắn lục cắn (Cong 28:3-6)đã khiến thổ dân tưởng ông là một vị thần; và ông đã chữa lành hết các bịnh nhân trên đảo (Cong 28:8,9).

Nếu lấy các phép lạ khỏi sách Công vụ các sứ đồ, thì chẳng còn lại bao nhiêu. Dầu nhà phê bình toan làm giảm giá trị hiển nhiên của các phép lạ chừng nào, nhưng vẫn còn cái thực sự rằng Đức Chúa Trời đã đại dụng các phép lạ để cho đạo Đấng Christ khởi phát trên thế giới nầy.

Cong 3:1-26

Bài giảng thứ hai của Phi-e-rơ

Nghĩa là bài giảng thứ hai của ông có chép trong Kinh Thánh. Nhằm ngày Lễ Ngũ Tuần, các lưỡi lửa và tiếng gió ào ào đã khiến dân chúng kinh ngạc kéo đến. Do đó, Phi-e-rơ công khai tuyên bố Tin Lành lần đầu tiên trước một số thính giả rất đông đúc. Dường như mấy ngày đã trôi qua (Cong 2:46,47). Những đoàn người dự Lễ Ngũ Tuần đã trở về nhà. Thành Giê-ru-sa-lem lại yên tĩnh. Các Sứ đồ mãi dạy dỗ tín đồ và làm “nhiều sự kỳ phép lạ.”Bây giờ một phép lạ lớn lao chữa lành người què xảy ra ở ngay cổng Đền thờ, là nơi toàn dân thành phố quen thấy, đã làm cho họ náo động trở lại. Trước mặt đoàn người kinh ngạc, Phi-e-rơ gán sự chữa lành ấy cho quyền phép của Đấng Christ phục sanh, rồi ông lại thuật truyện tích Tin Lành yêu quí. Do đó,”số tín đồ lên đến độ 5000” (Cong 4:4).

Cong 4:1-31

Phi-e-rơ và Giăng bị cầm tù

Những kẻ cầm quyền đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá, bây giờ kinh hoảng vì truyện Ngài từ kẻ chết sống lại đồn rộng ra, và vì Danh Ngài càng ngày càng được hoan nghinh. Chúng bèn bắt Phi-e-rơ và Giăng, truyền cho hai ông không được nhơn Danh Đức Chúa Jêsus mà giảng nữa. Hãy chú ý sự dạn dĩ của Phi-e-rơ (Cong 4:9-12,19,20). Đây chính là Phi-e-rơ mấy tuần trước, ở chính chỗ nầy, trước mặt chính những người nầy, đã nhát sợ khi một thiếu nữ chế giễu và đã chối Chúa. Bây giờ ông hoàn toàn dạn dĩ và bất chấp những kẻ đã giết Chúa của ông.

Sau khi ở trong khám tù một đêm (Cong 4:5,21),Phi-e-rơ và Giăng được chúng thả ra. Và Đức Chúa Trời đã làm một cơn động đất để tỏ ý tán thành sự dạn dĩ của hai ông (Cong 4:29,31).

Cong 4:32-35

Hội Thánh cứ lớn lên

Sự hăm dọa của kẻ cầm quyền không có ảnh hưởng bao nhiêu trên Hội Thánh. Hội Thánh cứ tiến lên trong tinh thần huynh đệ,và cứ lớn lên rất mau lẹ. Ngày thứ nhứt có 3000 người (Cong 2:41), rồi lên tới 5000 người (Cong 4:4), rồi “nam, nữ đều đông lắm” (Cong 5:14), rồi “thêm lên nhiều lắm,” kể cả một số đông thầy tế lễ (Cong 6:7). Chính các thầy tế lễ đã biết ẩn tình trong lời đồn dối trá về mộ phần của Chúa (Mat 28:11-15).

Cong 4:36-37

Ba-na-ba

Ông là người Lê-vi, ở đảo Chíp-rơ, và là anh em chú bác với Giăng, tức Mác (Co 4:10); nhà mẹ của Mác là nơi các tín đồ nhóm họp (Cong 12:12). Ông là người có dáng vẻ oai nghi (Cong 14:12), tánh tình hiền đức, và đầy dẫy Đức Thánh Linh (Cong 11:24). Ông thuyết phục anh em tín đồ ở Giê-ru-sa-lem tiếp nhận Phao-lô (Cong 9:27). Ông được cử đi tiếp nhận tín đồ dân ngoại tại An-ti-ốt (Cong 11:19-24). Ông đưa Phao-lô từ Tạt-sơ đến An-ti-ốt (Cong 11:25,26). Ông cùng đi với Phao-lô trong hành trình truyền giáo thứ nhứt.

Cong 5:1-11

A-na-nia và Sa-phi-ra

Họ nói dối rằng mình đã dâng hết, kỳ thực họ chỉ dâng một phần. Họ chết do hành động của Đức Chúa Trời, chớ không phải của Phi-e-rơ, rõ ràng cốt để treo gương cho mọi thời đại biết Đức Chúa Trời bất mãn đối với tội tham lam và đạo đức giả. Đức Chúa Trời chẳng đánh chết chúng ta mỗi khi ta phạm tội ấy. Nếu Ngài làm như vậy, thì có người ngã chết trong Hội Thánh luôn. Nhưng việc nầy xảy ra đây chứng tỏ thái độ của Đức Chúa Trời đối với tấm lòng lầm lỗi. Ngay lúc khởi đầu của Hội Thánh, đó là một lời cảnh cáo nghịch cùng sự sử dụng và lạm dụng Hội Thánh làm phương tự tôn vinh. Việc xảy ra đây nêu gương kỷ luật và có ảnh hưởng tốt lành đến Hội Thánh ngay (Cong 5:11).

Cong 5:12-42

Các Sứ đồ bị cầm tù lần thứ hai

Khi Phi-e-rơ và Giăng bị cầm tù lần thứ nhứt vì đã chữa lành người què, thì chúng cảnh cáo hai ông không được nhơn Danh Đức Chúa Jêsus mà giảng nữa (Cong 4:17-21). Nhưng hai ông cứ rao truyền sự sống lại của Ngài. Đức Chúa Trời cứ làm những phép lạ lớn lao bởi tay họ (Cong 5:12,16), và số tín đồ cứ thêm lên rất nhiều (Cong 5:14).

Những kẻ cầm quyền điên cuồng và kinh khủng trước quyền năng ngày càng lan rộng của Người Na-xa-rét mà chúng đã đóng đinh vào Thập tự giá. Chúng lại bắt các Sứ đồ, và nếu không vì sợ nhân dân và vì ảnh hưởng của Ga-ma-li-ên ngăn cản, thì chúng đã ném đá các Sứ đồ cho chết ngay lập tức.

Lại hãy chú ý Phi-e-rơ dạn dĩ bất chấp kẻ cầm quyền (Cong 5:29-32), và dầu bị đánh đòn (câu 40), các Sứ đồ cũng cứ rao truyền Danh Jêsus và vui vẻ chịu đau đớn vì cớ Ngài (câu 41, 42).

Ga-ma-li-ên đã tạm thời cứu mạng các Sứ đồ lúc đó (câu 34-40); ông là giáo sư đạo Do-thái có tiếng tăm nhứt đương thời mình. Chính Phao-lô đã làm môn đệ của ông (Cong 22:3). Có lẽ chàng thanh niên Sau-lơ (Phao-lô) cũng có mặt trong buổi nhóm họp của tòa Công luận nầy; vì chàng đồng ý với họ (Cong 26:10), và sau đó ít lâu, khi tòa công luận ném đá Ê-tiên, thì chàng đã dự phần (Cong 7:58).

Cong 6:1-7

Cử 7 thầy phó tế(chấp sự)

Cho tới lúc nầy, dường như các Sứ đồ cai quản mọi việc trong Hội Thánh (Cong 4:37). Trong vòng vài tháng, hoặc 1, 2 năm,Hội Thánh đã lớn lên quá bội.

Và việc ăn uống của đoàn thể tín đồ đã chiếm quá nhiều thì giờ của các Sứ đồ.

Các Sứ đồ biết tường tận truyện tích quí báu của Đức Chúa Jêsus. Phương pháp duy nhứt để kể truyện tích ấy cho kẻ khác biết là chính miệng nói ra. Từ sáng đến tối, ở nơi công cộng và ở chỗ riêng, các Sứ đồ đã đem hết tâm lực vào một công việc, là cứ thuật lại truyện tích Cứu Chúa vừa tỉ mỉ, vừa tổng quát, cho những đoàn dân đông kéo tới. Vậy, 7 thầy phó tế đã được chỉ định. Sự sắp đặt nầy đã có kết quả tốt đẹp và nhơn đó,số tín đồ tăng lên nhiều lắm (câu 7).

Cong 6:8-15

Ê-tiên

Trong số 7 thầy phó tế, có hai người giảng đạo hữu danh, là Ê-tiên và Phi-líp. Ê-tiên được vinh hạnh chết vì Đấng Christ trước nhứt. Còn Phi-líp đem Tin Lành tới xứ Sa-ma-ri và miền Tây xứ Giu-đê.

Phạm vi hoạt động đặc biệt của Ê-tiên dường như ở giữa vòng người Do-thái sanh trưởng tại Hi-lạp. Lúc đó có chừng 460 nhà hội tại Giê-ru-sa-lem, mà một số do người Do-thái ở nhiều xứ khác nhau đã tự xây cất để sử dụng. Có 5 nhà hội dành cho những người từ Sy-ren,A-léc-xăn-đơ-ri, Si-li-si, Tiểu-Á-tế-á và La-mã tạm trú tại Giê-ru-sa-lem (Cong 6:9)(“Bọn được tự do” là những người Do-thái bị bắt qua La-mã cầm tù, rồi sau được phóng thích, hoặc con cháu họ). Thành Tạt-sơ thuộc xứ Si-li-si, nên Sau-lơ có lẽ ở trong chính nhóm nầy. Một số người Do-thái sanh ở ngoại quốc nầy được trưởng dưỡng tại những trung tâm văn hóa Hi-lạp, nên tự cho là cao trọng hơn người Do-thái sanh ở tổ quốc. Nhưng Ê-tiên là địch thủ của họ. Họ không thể lý luận đối chọi với ông, bèn thuê bọn làm chứng dối và kiện ông trước tòa Công luận. Ê-tiên chắc phải là một người tài năng lỗi lạc, và lại có Đức Chúa Trời làm nhiều phép lạ để giúp đỡ ông (Cong 6:8).

Cong 7:1-60

Ê-tiên tuận đạo

Ông đứng trước tòa Công luận đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá và vừa mới toan cấm các Sứ đồ nhơn Danh Ngài mà giảng dạy (Cong 4:18). Nếu dám, họ cũng đã giết các Sứ đồ rồi (Cong 5:33). An-ne và Cai-phe cũng lại có mặt ở đó (Cong 4:6).

Bài giảng của Ê-tiên trước tòa Công luận phần lớn là lặp lại truyện tích Cựu Ước, và đến phần chót, ông thấm thía trách họ đã giết Đức Chúa Jêsus (Cong 7:51-53). Đang khi ông nói, thì mặt ông sáng ngời như mặt thiên sứ vậy (Cong 6:15). Họ xông vào ông như một bầy thú dữ. Khi những hòn đá bắt đầu bay vút vào thân thể ông, thì ông nhìn chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và thấy Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời, dường như Thiên đàng dang tay ra qua biên giới để đón ông về Nhà vinh hiển. Ông chết y như Đấng Christ đã chết, và không tỏ dấu thù giận những kẻ đáng khinh đã giết mình; ông cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ!” (Cong 7:60).

“Một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ” (Cong 7:58)

Đây là một trong những CHỖ RẼ CỦA LỊCH SỬ. Chàng thanh niên Sau-lơ dường như đã làm nghị sĩ tòa Công luận (Cong 26:10). Có lẽ ông có mặt tại một hoặc cả hai phiên họp của tòa Công luận, trong đó họ toan cấm các Sứ đồ rao giảng Đấng Christ (Cong 4:1-22  Cong 5:17-40) có lẽ chính ông đã nghe lời Phi-e-rơ từ chối một cách dạn dĩ và bất chấp. Nhưng nầy, suốt cả đời, ông chưa hề thấy một người nào chết giống như Ê-tiên. Dầu cảnh trạng đó có hiệu quả trực tiếp là thúc đẩy Sau-lơ hung hăng bắt bớ tín đồ, nhưng mấy lời Ê-tiên nói lúc qua đời đã thấu vào tâm trí của Sau-lơ, và in sâu trong đó, và lặng lẽ hành động để khiến ông sẵn sàng tiếp nhận. Sự Hiện thấy Vĩ đại trên đường Đa-mách (Cong 26:14).Có lẽ rất ít là một phần nào, sự tuận đạo của Ê-tiên là giá trả để chinh phục linh hồn Sau-lơ. Và linh hồn nầy quí báu biết bao! Sau Đức Chúa Jêsus, ông là bậc vĩ nhân đệ nhất của mọi thời đại! Hơn bất cứ ai, ông là người duy nhất đã lập vững đạo Đấng Christ tại những trung tâm chánh yếu của thế giới mà họ biết thời đó,và thay đổi cả dòng lịch sử.

Cong 8:1-4

Hội Thánh bị tan lạc

Đây là cơn bắt bớ Hội Thánh đầu tiên.Có lẽ Hội Thánh đã được 1 hay 2 tuổi. Có lẽ cơn bắt bớ kéo dài ít tháng. Sau-lơ dẫn đầu cơn bắt bớ. Ông có hai người bà con đã tin theo Đấng Christ rồi (Ro 16:7). Nhưng cơn bắt bớ bắt đầu bằng sự ném đá Ê-tiên, đã trở thành hung hăng,ác liệt. Sau-lơ “thở ra” sự hăm dọa và giết chóc (Cong 9:1), đã làm cho Hội Thánh tan hoang, xông vào mỗi nhà, kéo tín đồ nam, nữ đi bỏ tù (Cong 8:3),đánh đòn tín đồ trong các nhà hội (Cong 22:19-20), xử tử nhiều người (Cong 26:10-11), và tàn phá Hội Thánh quá mức (Ga 1:13).

Kết quả, cơn bắt bớ nầy làm cho Hội Thánh tan lạc. Tại Giê-ru-sa-lem, Hội Thánh đã trở thành một phong trào vĩ đại và mạnh mẽ cứ bành trướng mãi, không sao chống cự được. Mạng lịnh sau chót của Đức Chúa Jêsus cho các môn đồ là phải rao truyền khắp thế giới (Mat 28:19  Cong 1:8). Bây giờ, theo thiên cơ của Đức Chúa Trời, cơn bắt bớ nầy làm cho khởi phát công cuộc truyền giáo của Hội Thánh. Tín đồ đã nghe các Sứ đồ giảng dạy khá lâu, nên có thể biết rõ tất cả truyện tích Đức Chúa Jêsus, cùng sự chết và sự sống lại của Ngài. Bất cứ đi đâu, họ cũng đem theo Tin Lành quí báu. Tuy nhiên, các Sứ đồ được hoan nghinh nhiệt liệt và có quyền phép lớn lao, nên khó mà bắt bớ họ; vậy, họ tạm thời cứ ở lại Giê-ru-sa-lem để phụ trách mọi việc tại trụ sở Hội Thánh.

Cong 8:4-40

Phi-líp tại xứ Sa-ma-ri và miền Tây xứ Giu-đê

Đức Chúa Trời làm rất nhiều phép lạ để chánh thức hóa lời giảng của Phi-líp (câu 6, 7, 13). Nhưng Phi-e-rơ và Giăng đã được sai đến để giúp cho tín đồ tiếp nhận Đức Thánh Linh (câu 15).

Bấy giờ, Đức Chúa Trời đưa Phi-líp xuống phía Nam, đến cùng viên quan cai quản kho tàng nước Ê-thi-ô-bi, để truyền Tin Lành tới trung tâm Phi-châu.

Đoạn, Phi-líp rao truyền Tin Lành ở khắp các đô thị trên đồng bằng dọc theo bờ biển, từ A-xốt đến Sê-sa-rê. Sê-sa-rê là quê hương của ông (Cong 21:8,9).

 

Lễ báp-têm (câu 36-39)

Đây là nghi lễ đầu tiên khi ta trở nên tín đồ Đấng Christ. Đây nói đến lễ ấy rất rõ ràng. Đức Chúa Jêsus đã truyền lịnh làm lễ báp-têm (Mat 28:19). 3000 người tin Chúa trong ngày Lễ Ngũ Tuần đã chịu lễ báp-têm (Cong 2:38). Cả người Sa-ma-ri (Cong 8:12), Sau-lơ (Cong 9:18  Cong 22:16), Cọt-nây (Cong 10:47-48), Ly-đi (Cong 16:15), viên quản đốc đề lao thành Phi-líp (Cong 16:33), người Cô-rinh-tô (Cong 18:18), người Ê-phê-sô (Cong 19:5), đều đã chịu lễ báp-têm. Cũng xem  Ro 6:3-7.

Cong 9:1-30

Sau-lơ trở lại tin Chúa

Ông là người chi phái Bên-gia-min (Phi 3:5), một người Pha-ri-si, một công dân thành Tạt-sơ, là trung tâm đại học thứ ba của thế giới, đương thời ấy chỉ kém kinh thành A-thên và A-léc-xăn-đơ-ri.Lúc sanh ra, ông đã có quyền công dân La-mã (Cong 22:28), và ông thuộc về một gia đình quyền thế. Như vậy, ông có căn bản văn hóa Do-thái, Hi-lạp và La-mã.

054

Bản đồ số 54

 

Rõ ràng lắm, ông đã quyết định tiêu diệt Hội Thánh. Sau khi chà nát và làm tan lạc Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem, ông đã lên đường đi Đa-mách để lùng bắt những tín đồ trốn tránh ở đó.

Dọc đường, Chúa hiện đến cùng ông, chẳng khác gì sét đánh từ trời. Sự trở lại tin Chúa của ông được kể ba lần: ở đây, ở Cong 22:5-16 và  Cong 26:12-18. Đó là sự hiện thấy hiển nhiên, chớ không phải chỉ là chiêm bao. Ông thật đã bị mù mắt (câu 8, 9, 18). Những kẻ đi theo ông đã nghe tiếng phán (câu 7). Từ nay trở đi, ông hầu việc Đấng Christ mà ông đã tìm cách tiêu diệt; ông hầu việc Ngài với một sự tận tụy vô song trong lịch sử.

Ông ở Đa-mách “lâu ngày” (câu 23), rao truyền Đấng Christ. Rồi người Do-thái tìm cách giết ông.

Ông bèn đi qua xứ A-ra-bi, rồi lại trở về Đa-mách. Ông ở thành Đa-mách và xứ A- ra-bi 3 năm, đoạn, trở về Giê-ru-sa-lem (Cong 3:18), ở đó 15 ngày. Họ tìm cách giết ông (Cong 9:29). Ông bèn trở về thành Tạt-sơ. Mấy năm sau, Ba-na-ba đưa ông tới An-ti-ốt (Cong 11:25).

Cong 9:31-43

Phi-e-rơ tại thành Giốp-bê

Tại thành Ly-đa, Phi-e-rơ đã chữa lành Ê-nê. Tại thành Giốp-bê, ông khiến bà Đô-ca sống lại từ trong kẻ chết; những phép lạ nầy khiến cho nhiều người tin Chúa (câu 35, 42).

Phi-e-rơ ở thành Giốp-bê “nhiều ngày” (câu 43). Như vậy, bởi thiên cơ của Đức Chúa Trời, Phi-e-rơ đã ở gần khi Ngài sắp sửa mở cửa Tin Lành cho dân ngoại tại thành Sê-sa-rê, cách xa 30 dặm về phía Bắc.

Cong 10:1-48

Đạo Tin Lành lan truyền đến các dân ngoại

Cọt-nây là người dân ngoại đầu tiên làm tín đồ Đấng Christ. Từ trước đến nay, Tin Lành chỉ giảng cho người Do-thái, người dân ngoại theo đạo Do-thái, và người Sa-ma-ri vốn vâng giữ luật pháp Môi-se.

Do mạng lịnh sau chót của Đức Chúa Jêsus, các Sứ đồ chắc đã hiểu rằng mình phải rao truyền Tin Lành cho muôn dân.Nhưng các ông chưa được Chúa khải thị cho biết rằng người dân ngoại phải được tiếp nhận với nguyên tư cách người dân ngoại. Dường như các Sứ đồ nghĩ rằng muốn được tiếp nhận vào gia đình Đức Chúa Trời với tư cách tín đồ Đấng Christ, thì người dân ngoại trước hết phải chịu phép cắt bì, trở thành tín hữu đạo Do-thái và vâng giữ luật pháp của Môi-se.

Có người Do-thái ở rải rác khắp các nước,và có lẽ các Sứ đồ nghĩ rằng mình chỉ nhận sứ mạng giảng Tin Lành cho người Do-thái (cho đến khi Đức Chúa Trời đưa họ thoát khỏi quan niệm ấy.) Trong một thời gian, họ chỉ giảng Tin Lành cho người Do-thái (Cong 11:19).

Nhưng bây giờ, khắp cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và xứ Ga-li-lê đã được nghe Tin Lành rồi, nên theo thiên cơ của Đức Chúa Trời, đã tới lúc cống hiến Tin Lành cho các dân ngoại.

 

Cọt-nây

Người dân ngoại đầu tiên được Đức Chúa Trời lựa chọn để cống hiến Tin Lành cho, là một sĩ quan của quân đội La-mã, ở thành Sê-sa-rê, tên là Cọt-nây.

Thành Sê-sa-rê ở trên bờ biển, cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 50 dặm về phía Tây-bắc; đây là thủ đô La-mã tại xứ Pa-lét-tin, là trú sở của quan Thống đốc La-mã, và là tổng hành dinh quân sự của xứ nầy. Người ta cho rằng Cọt-nây là viên bách nhân đội trưởng chỉ huy đội vệ sĩ của quan Thống đốc. Như vậy, sau quan Thống đốc, Cọt-nây là một trong những người quan trọng nhứt và có tiếng tăm nhứt trong cả vùng nầy.

Cọt-nây là một người hiền đức và sùng đạo.Chắc ông biết ít nhiều về Đức Chúa Trời của người Do-thái và của tín đồ Đấng Christ. Sê-sa-rê là quê hương của Phi-líp (Cong 8:40  Cong 21:8). Nhưng dầu Cọt-nây cầu nguyện Đức Chúa Trời của người Do-thái, ông cũng vẫn thuộc về dân ngoại.

Chính Đức Chúa Trời đã lựa chọn Cọt-nây làm người dân ngoại đầu tiên được mở cửa Tin Lành cho. Chính Đức Chúa Trời chỉ huy tất cả công việc. Ngài bảo Cọt-nây cho người đi mời Phi-e-rơ (câu 5). Đức Chúa Trời phải dùng sự hiện thấy đặc biệt để khiến Phi-e-rơ quyết định đi (câu 9-23). Và Ngài đã tán thành sự tiếp nhận Cọt-nây vào Hội Thánh (câu 44-48). Ông là trái đầu mùa của thế giới dân ngoại.

Có lẽ việc nầy xảy ra chừng 5 hay 10 năm sau khi thành lập Hội Thánh tại Giê-ru- sa-lem, có lẽ là vào khoảng năm 40 S.C.. Chắc sự hay biết tin ấy đã thúc đẩy thành lập Hội Thánh dân ngoại tại An-ti-ốt (Cong 11:20). Nhưng một số người Do-thái khó mà thừa nhận tình trạng nầy.

Từ thành Giốp-bê (câu 5), Đức Chúa Trời sai Phi-e-rơ, người Do-thái, đến cùng Cọt-nây, người dân ngoại. 800 năm trước,cũng tại thành Giốp-bê (Gia-phô) nầy, Đức Chúa Trời đã phải dùng chút áp lực để khiến Giô-na, người Do-thái, quyết định đi đến thành Ni-ni-ve của dân ngoại (Gion 1:3).

Hãy chú ý: Cọt-nây không buộc phải bỏ công việc trong quân đội.

Cong 11:1-18

Sự tán thành của các Sứ đồ

Phi-e-rơ tiếp nhận Cọt-nây, người dân ngoại, vào trong Hội Thánh, mà không đòi ông phải chịu phép cắt bì. Các Sứ đồ khác chỉ tán thành hành động ấy sau khi Phi-e-rơ giải thích rằng đ

Lên đầu trang