Simpson, a Benjamin

SIMPSON, A. BENJAMIN

(1843-1919)

Albert Benjamin Simpson, nhà sáng lập Hội Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo (Phúc Âm Liên Hiệp, gọi tắt là Hội CMA) sanh năm 1843, tại thị trấn Bayview, đảo Prince Edward Island, Đông bộ nước Canada. Ông Simpson thuộc một gia tộc danh dự và giàu có. Ông nội của Simpson đã di cư từ Scotland sang đây năm 1774. Song thân của ông là ông James và bà Jane Simpson. Thân phụ ông hành nghề đóng tàu thuyền và thương mãi, tánh tình trang nghiêm, mực thước, được mọi người trong vùng yêu mến, kính nể. Thời thơ ấu Simpson có tính nhút nhát và rụt rè, nhưng nhạy cảm và giàu óc tưởng tượng. Gia đình Simpson thuộc Giáo hội Trưởng Lão. Mỗi sáng sớm ông luôn thấy thân phụ mình thức dậy sớm, ngồi bên ngọn đèn cầy, chăm chú đọc Thánh Kinh và cầu nguyện. Hình ảnh đó đã để lại dấu ấn sâu đậm vào tâm khảm cậu. Nhờ cách giáo huấn của thân sinh có lễ giáo và nề nếp mà Simpson đã chóng biết đi vào kỷ luật, làm việc có tính toán. Simpson có tánh tình chăm chỉ, siêng năng và sự học của chàng cũng không khó khăn lắm. Bởi Simpson được khuôn đúc trong bầu không khí gia đình tin kính như thế nên từ năm lên 10 tuổi cậu đã có ý muốn trở thành một Mục sư rồi.

Có một cuộc chiến tâm linh diễn ra gay gắt trong tấm lòng người thanh niên này, nhưng chàng không muốn vì bổn phận hoặc vì học đòi bắt chước người khác mà lãnh nhận chức Mục sư đâu. Xem ra việc Simpson dâng mình hầu việc Đức Chúa Trời đã có những điểm thuận lợi đáng kể. Lúc đầu chàng học tiếng La tinh, Hi văn và toán với một Mục sư hưu trí, và rồi tới trường Chatham, chàng phải đi dạy kèm để có thêm phụ phí mà theo đuổi sự học, và chàng cũng học giáo lý nơi Mục sư của mình là ông William Walker. Năm 1861 chàng đã lập một tờ giao ước với Chúa cách long trọng, và tờ giao ước đó cũng đã được tái lập hai lần nữa vào năm 1863 và năm 1878.

Khó nghĩ có một Giáo hội nào chuẩn bị cho nhân sự lãnh đạo tương lai của mình về mặt tri thức, Thánh Kinh, Thần học và thuộc linh chu đáo hơn Giáo hội Trưởng lão lúc bấy giờ. Tại trong mỗi giáo khu của Hội đều có một Hội đồng (Ban Thẩm vấn) có quyền xem xét và quyết định về một phần tử nào đó có năng lực hầu việc Chúa không? Năm 1861, thanh niên Simpson 18 tuổi, được Hội đồng này khảo hạch khả năng ở Ontario. Cuộc thẩm vấn này ứng viên phải trả lời đầy đủ về lý lịch bản thân, đức tin, tánh tình, từng trải thuộc linh, trình độ văn hóa và sự kêu gọi. Đã qua được “cửa ải” thứ nhất, sinh viên Simpson nhập học Cao đẳng Học viện John Knox ở Toronto tháng 10 năm 1861. Trong thời gian ngồi ở băng ghế nhà trường này, Simpson là một trong những sinh viên xuất sắc và có khẩu tài nhất. Chàng đã tranh thủ với bạn học để lãnh 2 học bổng, 1 của một người tên là George Buchanan và 1 tên là John Knox; ông hoàng xứ Wales cũng dành phần thưởng của mình cho chàng nữa. Tánh tình Simpson hiền lành và dễ mến. Mặc dù học và ở chung với nhiều sinh viên bê tha, chơi bời, song chàng đã nhờ Chúa thắng vượt được tất cả những sự cám dỗ phí tiền mất sức, phí thì giờ ấy. Năm 1865, Albert Simpson tốt nghiệp Cao đẳng Thần học Knox. Cũng năm đó ông được tấn phong Mục sư và kết hôn với cô Margaret Henry.

Dầu là một Mục sư trẻ (21 tuổi) mới ở trường ra, nhưng có hai Hội Thánh đã tranh nhau mời ông, là Hội Thánh Knox Church ở Hamilton và Hội Thánh Dudas ở thành phố Ontario. Sau ông chọn Hội Thánh Knox ở Hamilton. Trải qua 8 năm chức vụ của ông bà Mục sư trẻ, Chúa đã ban cho kết quả lạ lùng, số tín đồ tăng lên 750 người, trả hết 5000 USD tiền Hội Thánh mượn mua đất làm nhà thờ. Năm 1874, ông bà Mục sư Simpson đổi đến chăn bầy ở Hội Thánh Chestnust Street Church, thành phố Louisville, tiểu bang Kentucky. Dầu hành chức Mục sư tại một Hội Thánh lớn, ông cũng đã bắt đầu mở những chiến dịch giảng Tin Lành to lớn trong thành phố. Tuy hầu việc Chúa ở đâu cũng khả quan như thế, song trong lòng Mục sư Simpson lúc nào cũng trĩu nặng với bao linh hồn tội nhân đang kêu la ngày đêm mà Đức Chúa Trời đã cho ông thấy qua các khải tượng. Các tín hữu Hội Thánh thấy sự nhiệt cuồng của vị Mục sư mình, nên mặc dầu các chức sắc trong Giáo hội không đồng ý, họ cũng đã yểm trợ Mục sư Simpson tổ chức một cuộc truyền giảng Phúc Âm nhỏ ở Public Library Hall. Kết thúc số tín đồ tăng thêm đến nỗi Hội Thánh bắt buộc phải đi đến chỗ xây thêm một Nhà thờ rộng lớn với 100.000 USD, có tên là The Broadway Tabernacle. Tinh thần truyền giáo lúc nào cũng sôi sục, âm ỉ trong lòng vị Mục sư này. Một đêm kia trong giấc chiêm bao, ông thấy có hàng triệu người đang vây quanh ông, có người Trung Hoa ở một xứ sở xa xăm cũng có mặt nữa. Ông biết Chúa muốn ông làm gì qua sự hiện thấy này. Khi thức dậy, ông liền quỳ gối bên giường khóc lóc thưa với Chúa: “Lạy Chúa, chính con sẽ ra đi rao báo Tin Lành cho mọi người”. Bằng cách nào thì lịch sử đời ông đã trả lời.

Năm 1879, ông Simpson nhận lời mời đến làm Mục sư cho Hội Thánh Thirteenth Street Church tại NewYork, cũng là nơi ông nhận rõ khải tượng lớn về một trung tâm cho hoạt động truyền giảng Tin Lành rộng khắp có tánh cách quy mô thế giới. Năm 1881, ông nghỉ hẳn chức vụ của một Mục sư sở tại. Ông ra khỏi một Hội Thánh lớn đang trong tiến bộ phát triển mạnh và về mặt vật chất thì số phụ cấp cũng khá đáng kể. Thật là một thử thách lớn lao cho ông và gia đình ông lúc đó có 8 miệng ăn, ra đi chẳng một xu dính túi, chẳng có hứa hẹn gì bảo đảm về mặt đời sống!

Ông khởi động bước đi đức tin của mình bằng cách đăng tin trên một nhật báo về một cuộc họp những người cùng tâm huyết với ông tại phòng họp Caledonian Hall mà giá tiền thuê mướn rẻ hơn hết lúc ấy. Ông không hề thông báo cho các Hội Thánh và các tín hữu quen biết đến dự, vì ông sợ sẽ gây chia rẽ và kỳ thị bùng nổ lên chăng? Có 7 người đến với ông trong buổi đầu đó để hiệp chung cầu nguyện trước khi cùng thảo luận và bắt tay làm công tác hệ trọng của Chúa mà bấy lâu lòng ông hằng hoài bão. Hội Truyền Giáo do ông sáng lập năm 1882 có 35 người, nhưng một năm sau có 217 người; và mỗi tối Chúa Nhật có chừng 700 thính giả tới nghe Tin Lành. Hội Thánh này đã mua một khu phố ở đường Eighth Avenue Square, tại khu đất đó kiến thiết gồm có một Nhà thờ, 2 phòng họp, có một cơ sở đào tạo cán bộ truyền giáo. Cuộc xây cất khởi công năm 1888 và hoàn tất năm 1889.

Địa điểm này cũng là trụ sở của Nhà thờ The Gospel Tabernacle, cũng là tiền thân của Hội Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo, hoặc CMA sau này. Năm 1884 Hội CMA khởi sự gởi 5 giáo sĩ của mình đi Congo (Phi châu). Học viện Thần học và Huấn luyện Nhân sự Truyền giáo Nyack của Hội cũng được thành lập cách thành phố NewYork 25 dặm. Năm 1885 Hội mở rộng truyền giáo cho những người cùng khổ hạ lưu, bị xã hội quên bỏ, phạm pháp trong các nhà tù. Hội Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo (CMA) đã từng mang nhiều tên khác nhau như: The Christian Alliance (Liên Hiệp Cơ Đốc Nhân), The Evangelical Missionary Alliance (Liên Hiệp Truyền Giáo Tin Lành) – đây là hai tổ chức riêng biệt; rồi đến The Evangelical Missionary và The International Missionary Alliance (Hội Truyền Giáo Tin Lành và Hội Liên Hiệp Truyền Giáo Quốc Tế), và sau hết là The Christian And Missionary Alliance (viết tắt là CMA) tức Hội Cơ Đốc Nhân Và Giáo Sĩ Liên Hiệp, hay Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo. Chúng tôi không hiểu lý do người ta cũng gọi Hội này là Phúc Âm Liên Hiệp, do chữ nào? Ngày nay Hội CMA đang có mặt trên 100 quốc gia với hàng ngàn Giáo sĩ người bản xứ và nước ngoài đang hợp lực truyền bá Phúc Âm với nhau. Ông Simpson cũng xuất bản một tạp chí lấy tên là “Tin Lành cho muôn dân” là cơ quan truyền thông chính thức của Hội CMA để cổ võ cho công tác truyền giáo thế giới. Hội Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo là Hội đã gởi Giáo sĩ Jaffray, là người tiên phong đem Tin Lành đến Việt Nam vào mùa xuân năm 1911.

Năm 1893, Mục sư Tiến sĩ Albert Simpson chu lưu khắp các trụ sở thuộc Hội Truyền Giáo của ông trong 7 tháng. Năm 1910 ông đi Nam Mỹ, năm 1911 ông đến British Isles. Mặc dù vào thập niên năm 1910 Mục sư Simpson đã tuổi già sức yếu, nhưng ông cũng thường hay thăm viếng các Hội Thánh, trụ sở Hội Truyền Giáo, hiệp chung với các lãnh đạo địa phương để đẩy mạnh công tác của Hội. Ông sốt sắng cầu nguyện, động viên các bạn đồng lao, tín hữu tích cực hơn trong công tác cứu vớt tội nhân. Nhưng rồi ông không thể nào cầm cự với thời gian trên 70 đời người được mãi. Năm 1919, Tiến sĩ Simpson được 76 tuổi, ông mệt nhọc ngồi dưới hiên tư thất mình để tiếp chuyện thân mật với Giáo sĩ Judge Clark vừa từ Jamaica (một đảo quốc ở Trung Mỹ) trở về; và hai vị cũng đã dành thì giờ cầu thay cho công việc Chúa, nhất là cho Giáo sĩ và bà Heorge H. A. Ucllare đang phục vụ Chúa gian khổ ở Jamaica. Sau khi từ giã đồng lao, Mục sư Simpson bị bất tỉnh, người ta đưa ông vào nơi phòng riêng của ông. Rạng sáng ngày 29-10-1919, nhà lãnh đạo của Hội Liên Minh Cơ Đốc Truyền Giáo đã nghỉ an trong vòng tay của Đấng Chủ Tể Phước Hạnh – Đấng quyền năng nhân lành mà ông đã tận hiến cả cuộc đời mình để tôn thờ, phụng sự. Hằng trăm Mục sư, Giáo sĩ, tín hữu bè bạn có mặt trong buổi lễ tiễn biệt ông được tổ chức long trọng, trang nghiêm, cảm động ở Nhà thờ The Gospel Tebernacle. Thi hài ông được an táng trên một ngôi đồi trong khuôn viên của Thánh Kinh Học Viện Nyack.

Cũng cần biết thêm, Mục sư Albert B. Simpson cũng là một nhà văn, nhạc sĩ, thi sĩ Cơ Đốc có biệt tài. Ông đã viết chừng 70 quyển sách lớn nhỏ, và các bài Thánh ca do ông sáng tác lúc sinh thời không phải là xa lạ với tín hữu Tin Lành Việt Nam, trong Thánh ca Việt nam các số 223, 227, 247, 284, 291,…

Lên đầu trang