BADAL, BENJAMIN
(1844-1919)
Benjamin Badal là một trong những người nằm trong danh sách số nhân sự phân phối Thánh Kinh lưu động anh hùng và thành công nhất của Thánh Kinh Hiệp Hội Quốc Tế.
Benjamin Badal là người nước Iran. Ông sanh năm 1844 và mồ côi cha năm 2 tuổi. Ông được mẹ và chú bác đem về nuôi dưỡng. Song những người tộc họ này đều nghèo nàn, nên ông không được học hành gì nhiều và phải ra đời lam lũ kiếm miếng cơm manh áo khá sớm. Tuy nhiên Benjamin Badal là một cậu bé rất thông minh, hiếu động. Ông phải lăn lộn nhiều nghề để mưu sinh, như chăn dắt mục súc, cấy thuê, gặt mướn. Tối đến là ông theo học một lớp văn hóa do các nhà truyền giáo mở ra ở làng ông.
Năm 20 tuổi Benjamin Badal được biết đến danh Chúa Giê-xu và công khai tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình. Anh chuyến đổi nơi cư trú luôn và làm nhiều nghề khác nhau. Bởi vậy anh biết khá nhiều thứ tiếng. Ngoài tiếng Xi-ri là tiếng mẹ đẻ của anh, anh còn thông thạo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Armenia và sau đó là tiếng Arập. Không ngờ đây là lợi khí của anh khi gia nhập vào đoàn thể những người đi phổ biến Thánh Kinh vào tháng 9 năm 1878.
Cơ Đốc nhân toàn thế giới đều thừa biết rằng lran và các nước nằm trong “Quỹ đạo Hồi giáo rất thù ghét Cơ Đốc giáo và xem Thánh Kinh là “vật Quốc cấm”. Nên khi đảm nhận công tác phân phối Thánh Kinh ở trong vùng đó là Benjamin Badal cầm chắc cái chết trong tay. Nhưng vốn là một người nhanh nhẹn, dũng cảm, tháo vát nên Benjamin Badal không vì thế mà nhụt chí, nản lòng đâu.
Hành trình “Gieo giống Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời” của Benjamin Badal có lắm câu chuyện khá thú vị, kể hoài không hết mà chuyện nào cũng khiến cho người nghe hay đọc đến đều cười khoái chí và rơi nước mắt khâm phục người chiến sĩ kiên cường đó.
Một ngày nọ, Benjamin Badal đi tới thành phố Shiraz, thành phố này làm người ta liên tưởng đến chức vụ của nhà truyền giáo nổi danh Henry Martyn, có lần ông đã tới viếng thành phố này. Trên một cái cổng lớn dẫn tới khu chợ chính, Benjamin Badal nhìn thấy một tấm bảng cáo thị treo ở một bên trụ cổng. Cáo thị đó cấm dân chúng mua Thánh Kinh, và đe rằng kẻ nào bán Thánh Kinh sẽ bị tử hình!. Bên dưới có chữ ký của Tổng trấn thành phố. Nhưng Benjamin Badal chẳng coi cái cáo thị kia vào đâu! Anh thản nhiên ngồi ngay bên cổng, phía dưới cáo thị đó rồi bày các quyển Thánh Kinh ra và chào mời mọi người tới coi và mua các tập Thánh Kinh xinh xắn đó. Tất nhiên hành động can đảm lạ thường đó của anh làm cho khách qua đường kinh ngạc thêm tò mò đứng lại tham quan gian hàng của anh. Họ kéo đến vừa ngắm nhìn anh rồi lại nhìn lên cáo thị rồi lại quan sát anh! Nếu anh có can đảm bán sách Thánh Kinh kia, thì họ cũng chẳng sợ gì mà không mua và họ đã mua sách theo lời anh chào mời. Dầu vậy, Benjamin Badal đã không gặp một rắc rối nào ở thành phố Shiraz đó.
Anh tiếp tục lên đường công tác ở thành phố khác đó là Nahavend. Tại đây anh tiến thẳng vào tư dinh một chức sắc Hồi giáo. Ông gặp anh và được anh cho biết mục đích của anh. Hầm hầm nổi thịnh nộ, ông tu sĩ Hồi giáo kia thét đám gia nhân đi ra túm lấy Benjamin Badal. Trong sân nhà tu sĩ có trồng 2 cây cột, ở giữa có một thanh ngang cao cách mặt đất 6 tấc. Benjamin Badal bị bọn họ nọc ngửa ra, chúng cột hai chân anh lên sào, hai tên giữ lấy hai tay, một tên dùng roi quất lia lịa vào gan bàn chân anh. Đau quá anh Benjamin Badal đã ngất đi 3 lần. Mỗi lần mở mắt ra là tai anh nghe tên tu sĩ man rợ kia thét to: “cứ đánh chết nó đi”. Bị một trận đòn thập tử nhất sinh đó, nhưng anh đã viết mấy lời cho một người bạn của anh sau đó, mà ai đọc cũng cảm động lên tinh thần, lời anh đây: “Khi nghĩ đến những người sẽ kế tiếp bước tôi được tự do đến đây để truyền lời Chúa, tôi cảm thấy hân hoan và được an ủi rất nhiều, dầu tôi đã nếm cực hình vì Chúa” Không ai tìm đâu ra câu giải đáp, cũng nội nhật của cái ngày u ám tang thương đó, làm sao anh có thể bán: được 8 quyển Thánh Kinh ?!.
Một lần, anh Benjamin Badal có dịp trở lại thăm thành phố Nahavend, anh vừa đi ngay vào nhà tu sĩ Hồi lúc trước vừa nhủ thầm: “Mình sẽ biếu ông ta một quyển Thánh Kinh để cảm ơn ông ta về trận đòn phũ phàng mà ông ta đã dành cho mình!” Nhưng vì đã chạm mặt với Benjamin Badal rồi, nên hôm đó ông tu sĩ nọ từ chối tiếp anh. Benjamin Badal ở lại “thành phố đầy kỷ niệm” này 2 ngày, vừa đi bán sách Thánh vừa nói về Danh Tôn quý của Chúa Giê-xu cho mọi người được biết. Dầu bị đủ thứ hăm dọa, gây khó dễ, tống đuổi, thù nghịch… Tuy vậy mãi đến ngày thứ 3, anh rời khỏi thành phố mà không gặp một rắc rối nào. Anh còn để lại đằng sau mình một số lớn Thánh Kinh mà dân chúng trong thành phố Nahavend đã mua của anh.
Năm ngoài 70 tuổi, ông cùng một người bạn đồng lao làm cuộc viễn trình phân phối Lời Hằng Sống. Họ dự định kéo dài 1 năm. Benjamin Badal khởi hành từ thị trấn Nain, nằm giữa phía đông Irfahan. Ông mang theo 6 rương sách Thánh, có đoàn lạc đà và người phụ việc đi theo. Cho tới khi đoàn ông đến Hoorigaz này bỗng gặp một toán cướp 50 tên. Bọn chúng những tưởng phen này sẽ gặp một bữa ăn hàng khá béo bở. Tên đầu nậu phân công một số thuộc hạ giữ những con lạc đà và Benjamin Badal lại, còn những tên khác có nhiệm vụ đến lục soát các rương hành lý kia. Lần lượt 6 cái rương đều bị phá tan hoang, song bọn chúng chẳng tìm thấy chi cả mà chỉ toàn là… sách! “Thật mất công toi, tụi mình gặp bọn người dở điên dở khùng chuyên chở sách vào sa mạc mà bán cho ai đây'” Tên tướng cướp tức tối phân trần với đồng bọn của hắn. Nhưng y không bỏ cuộc. Y ra lệnh tra tấn nhóm người của Benjamin Badal và nhất là ông. Trước đó, biết mình gặp nguy, Benjamin Badal đã tìm cách chôn giấu gói tiền ăn đường của họ có 11 bảng Anh, nhưng bọn chúng cũng lôi ra được nhờ một tên cướp lấy chân dũi dũi dưới cát quanh cho đó lên và phát hiện ra túi tiền. Đã thu được chiến lợi phẩm, bọn chúng sợ bị lộ tung tích nên bắt Benjamin Badal và bạn của ông đi với chúng 60 dặm đường cho tới chỗ vắng vẻ chúng mới chịu buông tha ông. Được tha ra, họ lại phải trở về điểm xuất phát là Nain. Vừa đi vừa uống nước các khe suối và ăn những trái cây hoang dại mọc ven đường. Khi tới Nain, thấy tình cảnh đáng thương của họ, dân làng đã đem cho thức ăn, tiền bạc, quần áo và lừa để cỡi. Về số phận những quyển Thánh Kinh bị phá tán và xé rách kia, người ta hy vọng rằng sẽ có người nào tò mò lượm và đọc đến khi có ai đem gói thuốc hoặc hàng hóa gì chăng? Lời Chúa đã gieo ra, mặc dầu trong tình thế nghiệt ngã ngoài ý muốn đi nữa chắc chẳng trở về vô ích đâu.
Benjamin Badal qua đời năm 1919 sau hơn 40 năm hoạt động đắc lực không hề chùn bước ở miền đất Iran và Irak.
Hàng trăm năm qua, nước Iran và những quốc gia gần đó đã đón nghe Tin lành và có người cũng đã trở nên môn đệ của Cứu Chúa Giê-xu. Chắc khi đọc lịch sử chuyển tải Thánh kinh, không ai quên được cuộc đời tận tụy hy sinh của Benjamin Badal. Người ta sẽ càng yêu quý Thánh kinh hơn, vì Benjamin Badal và hàng khối người khác đã dũng cảm chịu đòn vọt, đói lạnh, xiềng xích, lao tù, mất mạng để đem lời Chúa đến cho họ.