Hình phạt

Punishment, judgement. Punition.
I. Mục đích hình phạt.–Công nghĩa đòi hỏi phải có hình phạt để đền tội. Bởi vậy, Chúa có hình phạt cho A-đam, Ê-va và Ca-in. Sự hình phạt không phải để đem đến điều ích lợi cho tội nhân, như thành Sô-đôm bị phạt vì sự gian ác, và sự hình phạt này không có lợi gì cho thành đó. Cũng vậy, khi kẻ sát nhân bị xử tử thì không có ý là muốn họ sửa đổi lại. Vậy, sự sửa phạt và sự hình phạt khác nhau lắm. Tuy nhiên, hình phạt cũng không ngăn ngừa được tội lỗi, dầu chánh phủ thường hình phạt để ép người ta phải vâng theo luật pháp. Như luật pháp Môi-se dầu dùng hình phạt để có ý ngăn trở người ta phạm tội, song ấy không phải là mục đích chính (Phục 13:11; Phục 17:13; Phục 19:20; Phục 21:21). Mục đích duy nhứt của sự hình phạt ấy là vì tội lỗi đáng bị phạt. Vậy, theo luật pháp Môi-se, nhà nước phải xử và phạt tội nhân theo sự công bình; nếu không làm thì cũng mắc tội và bị kể như đồng phạm (Lê 20:4-5; Dân 25:4, 11; Phục 21:8; Giô 7:11-15). Dân sự phải tẩy sạch xứ Chúa khỏi máu của kẻ bị giết. Xử tử kẻ sát nhân là sự chuộc tội cho xứ (Dân 35:33-34; Phục 21:8).
Để giữ năng lực của luật pháp, thì phải phạt nặng hay nhẹ tùy theo tội. Mức phạt xứng đáng cho tội ăn cắp không phải chỉ là bồi thường của đã lấy nhưng vì ăn cắp là phạm luật pháp nên luật pháp phải hình phạt.
II. Hình phạt trước cơn nước lụt.–Trong thời thái cổ, hình phạt là sự đền bù xứng đáng: “huyết đền huyết”. Sau sự sa ngã của A-đam và Ê-va, sự hình phạt tội lần đầu chép trong Kinh Thánh là trên Ca-in, người sát nhơn đầu tiên. Trong Sáng 4:23-24; Lê-méc công nhận rằng sự hình phạt đó rất nên. Trong bài chúc phước Nô-ê, Đức Chúa Trời phán người nào làm đổ máu người thì sẽ bị báo trả bởi tay người khác, dầu là thú vật làm đổ máu cũng vậy (Sáng 9:5-6).
III. Hình phạt theo luật pháp Môi-se.–Đến thời kỳ Môi-se, luật pháp nói rõ kẻ sát nhân phải bị xử tử, dầu họ đã trốn gần sừng bàn thờ Chúa tại một thành ẩn náu. Một thú vật cũng đồng bị xử như vậy.
1. Theo luật Môi-se, phạm những tội sau thì phải bị tử hình:
a) Đánh hay mắng cha mẹ (Xuất 21:15, 17);
b) Phạm đến danh Chúa (Lê 24:14, 16, 23);
c) Phạm ngày Sa-bát (Dân 15:32-36; Xuất 31:14; 35:2);
d) Đồng cốt, bói khoa hay nói mạo danh Chúa mà nói tiên tri (Xuất 22:18; Lê 20:27; Phục 13:5; 18:20);
đ) Tội tà dâm (Lê 20:10; Phục 22:22);
e) Không trinh chánh (Phục 22:21, 23; Lê 21:9);
g) Hành hung (Phục 22:25);
h) Loạn luân hay nằm với thú (Lê 20:11, 14, 16; Xuất 22:19);
i) Bắt cóc (Xuất 21:16; Phục 24:7);
k) Thờ hình tượng dưới mọi hình thức (Lê 20:2; Phục 13:6, 10, 15; 17:2, 7 xem Giô 7:1- và 22:20 với Dân 25:8);
1. Làm chứng dối (Phục 19:16, 19).
2. Có một số lớn tội khác, mà một phần đã chép trong bản liệt kê trên, được luật pháp định phạt là “bị truất khỏi vòng dân sự” (Xuất 12:15; 30:33, v.v…). Trong Ngũ kinh Môi-se có tất cả 36 hay 37 lần bị phạt như thế. Thật khó để biết ý nghĩa đầu tiên của sự “bị truất khỏi” là gì, nhưng có thể tin rằng ấy là một án tử hình không thể tha được. Song có khi án tử hình được tha bổng ở những trường hợp:
a) Bởi người phạm lập tức chuộc tội;
b) Bởi Đấng chí cao trực tiếp can thiệp, tức là án tử hình được “chép” song có khi không thi hành.
3. Hình phạt có hai cách: thứ nhứt, tử hình; thứ nhì phạt nhẹ hơn.
I. Tử hình.–A. Về tử hình, luật pháp định như sau nầy:
a) Thông thường là ném đá (Xuất 17:4; Lu 20:6; Giăng 10:31; Công 14:5). Đối với tội thờ hình tượng, với mấy tội khác nữa, những người làm chứng ít nhứt phải có hai người, buộc phải ném đá trước nhứt (Phục 13:9; Công 7:58).
b) Treo trên trụ hình (Dân 25:4; Phục 21:22; IISa 21:6, 9).
c) Thiêu đốt là án tử hình về tội không trinh chánh trước đời Môi-se (Sáng 38:24). Theo luật pháp là để hình phạt con gái của thầy tế lễ (Lê 21:9).
d) Tử hình bởi gươm hay giáo (Xuất 19:13; 32:27; Dân 25:7); án phạt này thực hiện nhiều lần trong đờICác và sau khi từ Ba-by-lôn về (ICác 2:25, 34; 19:1; IISử 21:4, v.v…).
đ) Thắt cổ là án tử hình rất thường và rất nhẹ tùy theo các thầy Rabbi, nghĩa là đem dầm tội nhân vào trong đất sét hay bùn, lấy một khăn quấn quanh cổ và thắt chặt lại.
B. Ngoài các hình thức tử hình thông thường, còn có các hình thức khác nữa, được đem vào từ ngoại quốc và được xem là bất thường, như:
a) Đóng đinh trên thập tự (xem bài đó).
b) Nhận chìm dưới nước là án tử hình không phải theo luật pháp, song theo phong tục La-mã, mà theo giáo phụ Jérôme, án này đã được thi hành giữa người Giu-đa.
c) Cưa xả làm đôi hay chà nát dưới gậy sắc (IISa 12:31; có lẽ Châm 20:26; Hêb 11:37).
d) Giã trong cối hay đánh đòn đến chết, như nói đến trong Châm 27:22, nhưng hình phạt này cũng không do luật pháp định ra.
đ) Xô ngã từ trên cao, như họ muốn xử với Chúa tại Na-xa-rét, và như đã làm với các phu tù từ Ê-đôm, và thánh Gia-cơ đã bị xô ngã từ “nóc” đền thờ. Các tội nhân bị xử tử theo hình thức này thì bị chôn ngoài cửa thành, và người ta chất trên mộ người một đống đá (Giô 7:25-26; IISa 18:17; Giê 22:19).
II. Về hình phạt nhẹ.– Giữa người Giu-đa điều cốt yếu vẫn là:
a) Đền bù: “mắt đền mắt”, v.v… (Xuất 21:24-25).
b) Bồi thường bằng cách hoàn trả, hay là tương tự như vậy: trả tiền vì đã làm mất thì giờ hay là làm chứng gian (Xuất 21:18-36; Lê 24:18-21; Phục 19:20). Tội nói vu phạm đến danh giá người vợ thì phải trả 100 siếc lơ cho cha mẹ, và tội nhân phải bị đánh đòn (Phục 22:18-19).
c) Đánh đòn: không quá 40 roi (Phục 25:3); bởi đó người Giu-đa cẩn thận không đánh quá số 39 (IICôr 11:24).
d) Đánh bằng chông gai (Quan 8:16); Cùm (Giê 20:2); chặt chân tay (Quan 1:6 xem IISa 4:12); nhổ râu (Ês 1:6); bỏ tù, tịch thâu tài sản, hay là bị đày (Exơ 7:26; Giê 37:15; 38:6; Công 4:3; 5:18; 12:4).

Lên đầu trang