Herod’s palace. Palais d’ Hérode.
Theo sử gia Josèphe thì đó là một lâu đài có đồn lũy mà Hê-rốt Đại đế xây dựng năm 24-23 T.C.. Lâu đài đó ở góc Tây bắc vách thành thượng Giê-ru-sa-lem. Vùng lân cận phía Bắc có ba tháp Hippicus, Phasaelus và Mariamne. Vì rực rỡ, nguy nga nên ai cũng khen ngợi. Ngày nay nơi đó có một đồn lũy gần cửa Jaffa. Ba tháp đó xây dựng bằng đá trắng và lâu đài phía Nam ba tháp có tường cao 30 cu-đê (18m) bao xung quanh. Trong tường có nhiều sân và cây cối cùng nhiều phòng. Giữa các phòng có hai phòng rộng và đẹp gọi là Césaréum và Agrippium. Quan tổng đốc Sy-ri là Sabinus ở lâu đài. Trong lâu đài, Phi-lát làm những khiên bằng vàng để tôn kính hoàng đế Tibérius. Tổng đốc Florus cũng lập tòa án mình ở đó, chính nơi đây ông đã đưa ra những bản án đánh đòn và treo tội nhân trên cây thập tự. Khi dân Do-thái bắt đầu khai chiến với La-mã thì họ đốt cháy lâu đài, nhưng ba cái tháp thì không bị đốt cháy, chứng tỏ Giê-ru-sa-lem là một thành bền vững dường nào!
I. Hê-rốt Đại đế (Herod the Great).– Lu 1:5.
Ông là con thứ hai của Antipas (Antipater) và vợ là Cyprus, cả hai là người Y-đu-mê. Antipas nhờ hoàng đế La-mã mà được làm vua nước Giu-đê (47 T.C.). Lúc đó, dầu Hê-rốt mới 15 tuổi, song Antipas cử Hê-rốt cai trị xứ Ga-li-lê, và về sau cai trị thêm một miền xứ Sy-ri nữa. Khi hoàng đế Antoine thăm viếng xứ Sy-ri (41 T.C.), thì cử Hê-rốt với anh mình làm vua chư hầu xứ Giu-đê. Song khỏi một năm, người Bạt-thê xông vào nên Hê-rốt phải trốn sang La-mã (40 T.C.). Mấy năm sau, nhờ người La-mã giúp đỡ, Hê-rốt chiếm lấy Giê-ru-sa-lem (37 T.C.), và khôi phục quyền cai trị trên cả nước mình. Từ đó trở đi, Hê-rốt khỏi nạn ngoại xâm.
Tánh ông rất nóng nảy, tình dục phóng túng, ưa chém giết như một người đồ tể vậy. Trọn đời ông cưới mười vợ vì vậy mà trong gia đình có nhiều sự bất hòa. Vì lòng ghen tương, Antipater là con của vợ cả là Doris, xui Hê-rốt nghịch cùng Mariamne, vợ hai cùng hai con. Kết cục là Hê-rốt giết ba người đó. Sau, vì cớ nhiều việc khác xảy ra, Hê-rốt cũng giết Antipater nữa. Việc gian ác mà Hê-rốt làm trong gia đình mình cũng làm giữa những người tùy tùng. Như chuyện khi sắp chết, Hê-rốt truyền sau khi ông chết phải giết hết những quan lại đã phục dịch mình. Ấy để trong cả xứ sẽ có sự than khóc và để tang!
Chắc chính trong lúc ấy, Hê-rốt “sai giết hết thảy con trai từ hai tuổi sấp xuống ở thành Bết-lê-hem và cả hạt” (Mat 2:16). So với những việc đại ác Hê-rốt đang làm và định làm, thì việc giết các bé trai vô tội trong một ấp nhỏ như thế, không lấy gì là quan trọng, nên Josèphe không có nói đến cũng không lạ.
Ông dầu là người bạo ngược, bất nhân, hay xem thường ý kiến của dân sự, song về mặt chánh trị ông cũng làm được nhiều việc đáng khen. Ông đem văn hóa Hy-lạp truyền vào Do-thái, thực lòng mưu tính việc tốt cho đạo Do-thái, ông quan tâm và binh vực những người Do-thái ở tan lạc các nước. Dầu ông hung dữ và hay khinh dễ luật pháp làm cho mất lòng người Do-thái, song ông xây nhiều đài kỷ niệm thật rực rỡ để tô điểm thành Giê-ru-sa-lem. Vì người Do-thái mà ông xây lại đền thờ đồ sộ, đẹp đẽ. Dầu chính thức chỉ mất một năm rưỡi để xây đền thờ, song vì cớ phải sửa sang luôn nên có thể chép: “Người ta xây đền thờ nầy mất 46 năm” (Giăng 2:20). Ông lại thường giữ trật tự và an ninh cho các địa phương, khiến tánh mạng, tài sản nhân dân được bảo toàn chắc chắn.
Đức Chúa Jêsus giáng sanh gần lúc Hê-rốt Đại đế qua đời. Việc làm gian ác cuối cùng của ông là ra lệnh giết các bé trai từ hai tuổi trở xuống. Chừng năm 4 T.C., ông được 70 tuổi, trị vì 34 năm rồi băng. Khi nghe tin ông băng hà, những người bị bắt đều được thả thay vì bị giết. Dân sự đều mừng rỡ thay vì tang chế, khóc lóc. Theo chúc thơ, ông chia địa phận cho ba người con cai trị: Hê-rốt A-chê-la-u cai trị xứ Giu-đa, xứ Y-đu-mê và xứ Sa-ma-ri. Hê-rốt An-ti-ba cai trị vùng Ga-li-lê và Bê-rê. Hê-rốt Phi-líp cai trị xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít.
II. Hê-rốt An-ti-ba (Herod Antipas).–Ông là con vua Hê-rốt Đại đế, sanh bởi Malthace, người Sa-ma-ri. Vậy, ông vừa thuộc người Y-đu-mê vừa người Sa-ma-ri, có lẽ trong mạch máu không có giọt huyết của người Do-thái. Sau khi cha mất ông cai trị xứ Ga-li-lê và Bê-rê, được xưng là vua chư hầu (Mat 14:1; Lu 3:1, 19; 9:7; Công 13:1). Ông lấy con của Aretas làm vợ, Aretas là vua A-rạp của Nabathaean, kinh đô là Pétra. Song khi ở thành La-mã với Hê-rốt Phi-líp, em cùng cha khác mẹ, Hê-rốt An-ti-ba có tư tình với em dâu là Hê-rô-đia, mưu tính việc bỏ vợ chính để cưới Hê-rô-đia. Việc vô luân nầy được thành công. Vì Hê-rô-đia có tính mạnh mẽ, quyết đoán; còn Hê-rốt là người yếu đuối, nên bà hành quyền trên chồng như Giê-sa-bên hành quyền trên A-háp. Vua Aretas thấy con mình bị sỉ nhục như thế, thì giao chiến với Hê-rốt An-ti-ba và đại thắng. Vì Giăng Báp Tít can vua không được phép làm như vậy, thì Hê-rô-đia ghét và sau xui con gái mình xin vua Hê-rốt chém đầu Giăng trong ngục (Mat 14:1-12; Mác 6:14-29).
Chúa Jêsus nói ông là con chồn cáo (Lu 13:32). Ý Ngài cho rằng tánh ông quỉ quyệt như con chồn cáo vậy: ông giữ ngôi và quyền lực bằng tánh gian giảo. Song ông có một đảng theo mình, như trong Mác 8-15 gọi là “men đảng Hê-rốt”. (Xin xem bài Hê-rốt, Đảng) Khi danh tiếng Chúa Jêsus được đồn ra thì lương tâm Hê-rốt cắn rứt đến nỗi sợ là Giăng Báp Tít sống lại (Mat 14:1-2). Lúc Chúa Jêsus bị bắt, thì Phi-lát giao Ngài cho Hê-rốt. Hê-rốt mong Ngài làm phép lạ, song không thấy gì nên khinh dễ, nhạo báng và mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Như vậy, qua việc này Hê-rốt giải hòa với Phi-lát (Lu 23:7-15; Công 4:27).
Vì thấy anh mình là Hê-rốt Ạc-ríp-ba được lên làm vua, còn chồng mình (Hê-rốt An-ti-ba) vẫn chỉ làm chư hầu, nên Hê-rô-đia sanh lòng ganh tị, xui giục chồng cùng đi với mình sang La-mã xin hoàng đế ban cho vương hiệu. Song vua Ạc-ríp-ba gởi thơ sau cho hoàng đế Caligula mà kiện Hê-rốt đồng minh kín giấu với người Bạt-thê. Tóm kết là Hê-rốt bị đày ở Lyons tại Gaule (Pháp) năm 39 S.C. và qua đời tại đó.
III. Hế-rốt Phi-líp (Herod Philip).– Lu 3:1.
Hê-rốt Phi-líp là con của Hê-rốt Đại đế và Cléopâtre là người Giê-ru-sa-lem. Khi cha chết, Phi-líp hưởng cơ nghiệp xứ Gaulonitis, Tra-cô-nít và Paneas. Ông thật khác hẳn với người trong họ mình vì là người đạo đức, có nhân cách, điều độ và công nghĩa. Ông không hung dữ, quỉ quyệt như các anh em khác. Chắc ông nhờ ảnh hưởng của mẹ. Ông qua đời năm 34 S.C.. Khỏi ba năm, đất của ông với chức chư hầu Ly-sa-ni-a được ban cho cháu trai là Hê-rốt Ạc-ríp-ba I là con của Aristobule.
Lại có một Phi-líp khác là chồng trước của Hê-rô-đia (Mat 14:3; Mác 6:17), và là con của Hê-rốt Đại Đế do Mariamne sanh ra.
IV. Hê-rốt A-chê-la-u (Herod Archelaus).–Hê-rốt A-chê-la-u là trưởng nam của vua Hê-rốt Đại Đế với ngườivợ Sa-ma-ri là bà Malthace. Ông có tánh hung dữ như cha. Được du học ở La-mã như tất cả các hoàng tử Hê-rốt nên ông quen thuộc với đời sống xã hội và chính trị của La-mã. Trước khi vua cha chết, nhằm mục đích chiếm đoạt ngôi báu, Hê-rốt An-ti-ba tố cáo Hê-rốt A-chê-la-u và Hê-rốt Phi-líp (là anh em cùng cha khác mẹ) về tội phản bội triều đình La-mã nhưng cả hai đều được trắng án. Theo chúc thư của vua cha, Hê-rốt A-chê-la-u được hầu hết lãnh thổ với tước vị là vua chính (ethnarch), chúc thư nầy cũng bị Hê-rốt An-ti-ba chống đối trước triều đình La-mã. Trong khi vấn đề nầy đang được cứu xét, Hê-rốt A-chê-la-u bị dân Do Thái oán ghét vì ông đã tàn sát 3.000 người khởi nghĩa. Dù gặp nhiều khó khăn và sự chống đối của dân chúng, Hê-rốt A-chê-la-u vẫn được La-mã tín nhiệm. Có thể là Đức Chúa Jêsus đã dùng câu chuyện nầy trong ví dụ của Ngài trong Lu 19:11-27. Hê-rốt A-chê-la-u cai trị với bàn tay khắc nghiệt nên hai nước Giu-đê và Sa-ma-ri luôn ở trong tình trạng bất ổn. Tuy hai nuớc nầy không ưa nhau nhưng họ cũng phải đoàn kết trước tai họa chung, gởi đại biểu về La-mã để phản đối, và lần nầy thì họ thành công nên ông bị mất chức. Cũng giống như vua cha, ông xây cất hoàng cung ở Giê-ri-cô, và một thành mang tên ông, Archelais. Ông cưới bà Mariamne, sau khi ly dị bà nầy, ông cưới Glaphyra (trước đó là vợ của Alexandre, anh em cùng cha khác mẹ với ông). Ông được nói đến một lần trong Kinh Thánh ở Mat 2:22.
V. Hê-rốt Ạc-ríp-ba I (Herod Agrippa I).–Con của Aristobulus, cháu của Hê-rốt Đại Đế. Vào năm 7 TC., vì nghi kỵ, Hê-rốt Đại đế giết vợ mình là bà Mariamne và hai con của bà (và ông) trong đó có Aristobulus (là cha của Hê-rốt Ạc-ríp-ba). Lúc còn nhỏ ông du học tại La-mã. Đến năm 38 S.C., ông nhờ Sê-sa Caligula yêu dấu che chở, được phong làm vua toàn địa phận mà trước kia chú ông là Phi-líp trị vì. Năm sau, Caligula đuổi Hê-rốt An-ti-ba đi và thêm xứ Ga-li-lê cho Ạc-ríp-ba cai trị nữa. Ạc-ríp-ba tạm thời bỏ xứ mình sang La-mã. Ông khuyên ngăn không cho Caligula đặt tượng mình ở đền thờ Giê-ru-sa-lem. Khi Caligula bị ám sát, và Claudius không muốn nối ngôi, thì Ạc-ríp-ba đứng giữa nghị viện La-mã và Claudius mà khuyên, Claudius nhậm chức. Hoàng đế mới thưởng cho Ạc-ríp-ba xứ Giu-đê và Sa-ma-ri nên đất đai cũng rộng bằng địa phận do Hê-rốt Đại đế cai trị.
Ông lên ngôi, chính nhằm lúc đạo Do-thái rất thạnh vượng, và người Pha-ri-si cũng tin theo. Khi ở La-mã, ông sống theo người La-mã và giữ ngày lễ của La-mã; nhưng đến khi về thành Giê-ru-sa-lem, ông lại giả sống theo người Do-thái để được lòng người Do-thái. Chính ông truyền giết Gia-cơ là đầu trưởng Hội Thánh Đấng Christ tại Giê-ru-sa-lem và bắt Phi-e-rơ bỏ tù, ấy để làm vừa ý hoàng đế La-mã và người Do-thái (Công 12:1-). Như vậy, ông giữ được ngôi là bởi khéo luồn cúi, dua nịnh. Về sau, ông nghênh ngang ở thành Sê-sa-rê, nghiễm nhiên làm mình ra một Sê-sa thứ hai và tự cho mình như là một thần. Bởi đó, ông bị sứ giả của Chúa đánh và bị trùng đục mà chết, lúc 54 tuổi, nhăm năm 44 S.C..(Công 12:20-23). Ông để lại bốn con, nhưng chỉ có ba con chép trong Kinh Thánh là Ạc-ríp-ba II, Bê-rê-nít và Đơ-ru-si.
VI. Hê-rốt Ạc-ríp-ba II (Herod Agrippa II).– Con của Ạc-ríp-ba I. Khi cha mất, ông mới 17 tuổi và đang ở tại lâu đài của hoàng đế La-mã. Vì còn ít tuổi nên hoàng đế Cơ-lốt (Claudius) giữ Ạc-ríp-ba ở La-mã, không cho kế vị cha ngay. Trong thời gian đó, xứ Giu-đê ở dưới quyền một tổng đốc (procurateur). Ạc-ríp-ba ở lại thành La-mã, ông giúp đỡ các sứ giả của người Do-thái đã được phép của hoàng đế được hành chức theo đúng vai trò của mình. Khi chú ông là Hê-rốt vua Chalcis băng, độ 48 S.C., Cơ-lốt (Claudius) ban nước nhỏ đó ở miền dốc phía Tây núi Antiliban cho Ạc-ríp-ba, vậy ông trở nên vua Ạc-ríp-ba. Ông giúp đỡ những sứ giả Do-thái đến La-mã để kiện tổng đốc Cumanus và người Sa-ma-ri. Năm 52 S.C., Claudius đổi ông từ nước Chalcis đến một nước rộng hơn, gồm cả đất đai của Hê-rốt Phi-líp. Lúc đó, ông bị vấp ngã vì mối quan hệ với em gái mình là Bê-rê-nít. Năm 54 hay 55 S.C., hoàng đế Néron (Nero) thêm cho ông những tỉnh của Ti-bê-ri-át và Taricheac trong xứ Ga-li-lê và Julias trong xứ Pha-rê. Khi Phê-tu thay Phê-lít làm tổng đốc xứ Giu-đê, Ạc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến thành Sê-sa-rê để thăm viếng Phê-tu. Khi ấy, Phao-lô bị tù tại đó. Phê-tu bày tỏ việc Phao-lô trước mặt vua, và ngày sau Phao-lô binh vực mình trước mặt quan tổng đốc, trước mặt vua và Bê-rê-nít; đến nỗi vua công nhận rằng: “Nếu người nầy chưa kêu nài đến Sê-sa, có thể tha được (Công 25:13 đến 26:32).
Ít lâu nữa, Ạc-ríp-ba xây cất thêm lâu đài Asmonaeans tại Giê-ru-sa-lem, mở thêm thành Sê-sa-rê Phi-líp, và lập một rạp hát danh tiếng ở Bérytus. Khi dân Do-thái bắt đầu dấy loạn nghịch cùng đế quốc, Ạc-ríp-ba hết sức khuyên dân chớ lấy khí giới mà chống trả với tổng đốc và La-mã. Khi khởi giao chiến, Ạc-ríp-ba tiếp viện quan tướng La-mã là Vespasian, và khi cơ binh La-mã vây thành Ga-ma-la thì ông bị thương. Khi La-mã chiếm lấy Giê-ru-sa-lem, 70 S.C., thì Ạc-ríp-ba và Bê-rê-nít cùng sang La-mã và được chức “préteur” (pháp quan hay tổng đốc ở La-mã đế quốc). Ông qua đời lúc 70 tuổi vào năm 100 S.C..